vanban.org

Bản án 232/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn M ph m tội “ ướp giật tài sản”

p dụng điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017); Xử ph t bị cáo Trần Văn M 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời h n tù t nh từ ngày 03/5/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn M cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn M ph m tội “ ướp giật tài sản”
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự Quá trình điều tra và t i phiên tòa
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TH NH H H H M NH
Bản án số: 232/2022/HS-ST
Ngày: 25-10-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, TH NH PH H CH MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Xuân Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Dương

2. Bà Nguyễn hước Trinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huy n

hi, Thành phố H h Minh

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n C Chi, Thành ph Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu – Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 10 năm 2022, t i trụ sở Tòa án nhân dân huy n

hi, Thành phố H h Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 181/2022/HSST, ngày 07 tháng 10 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 226/2022/QĐXXST-HS ngày 13/10/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn M (tên gọi khác: H), sinh năm: 1986, nơi sinh: Thành phố H h Minh; iới t nh: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Số 13A, đường L, tổ 7, ấp , xã P, huy n , Thành phố H h Minh; Nghề nghi p: ông nhân; Trình độ học vấn: Mù chữ; Quốc tịch: Vi t Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn T và bà Bùi Thị N; Hoàn cảnh gia đình: Anh chị em có 04 người kể cả bị cáo; Có vợ tên Đào Thị Kim T, sinh năm 1997, có 02 con sinh năm 2018 và sinh năm 2019

Tiền án: Không; Tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt t m giữ chuyển t m giam từ ngày 03/5/2022 đến nay Bị cáo hi n có mặt t i phiên tòa

- Bị hại: Cháu Kang Hoàng Cát V, quốc tịch: Vi t Nam, sinh ngày 20/6/2012; Có người giám hộ đương nhiên: Bà Võ Thị Trường , sinh năm 1982 (mẹ ruột cháu V); ùng địa chỉ: Số 65A, đường 641, ấp , xã P, huy n , Thành phố H h Minh; (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

[1] Bà Huỳnh Thị Sa L, sinh năm 1983; Địa chỉ: Ti m vàng Kim Ngân N - Tổ 1, khu phố S, phường A, Thị xã T, tỉnh Tây Ninh; (vắng mặt)

[2] Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp H, xã T, huy n , Thành phố H h Minh; (vắng mặt)

[3] Bà Trần Thị Kim O, sinh năm 1991; Địa chỉ: ửa hàng xe gắn máy Đ– Số 567, Quốc lộ 22, khu phố 5, thị trấn , huy n , Thành phố H h Minh; (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

[4] Ông Trần H, sinh năm 1994; Địa chỉ: Số 13 đường Lê Thị N, tổ 7, ấp , xã P, huy n , Thành phố H Chí Minh; (có mặt).

[5] Bà Đào Thị Kim T, sinh năm 1997; Địa chỉ: Số 13A, đường Lê Thị N, tổ 7, ấp , xã P, huy n , Thành phố H h Minh; (có mặt).

- Người làm chứng: [1] Ông Nguyễn Trường , sinh năm 1997: Địa chỉ: Số 72/6B, đường 669, ấp , xã P, huy n , Thành phố H h Minh; (vắng mặt).

[2] Ông Đặng Hoàng T, sinh năm 1989: Địa chỉ: Tổ 7, ấp , xã P, huy n , Thành phố H h Minh; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong h sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 30/4/2022, Trần Văn M điều khiển xe gắn máy màu đen- đỏ, hi u Yamaha, lo i Nouvo, biển số 70F1-795.27, chở con trai ruột là Đào Trần Hoàng A (sinh năm 2018) và cháu trai đi d o chơi khu vực đ ng ruộng trên đường liên ấp hợ- hước An, thuộc ấp , xã P, huy n , Thành phố H h Minh T i đây, Mai dừng xe l i thì gặp cháu Nguyễn H ng Ngọc Q (sinh ngày 18/10/2011) và Kang Hoàng Cát V(sinh ngày 20/6/2012), cháu Ngô Duy Đ (sinh ngày 17/8/2010) và cháu Trần ch D (sinh ngày 20/4/2014) cũng l i chơi cùng Lúc này, M nhìn thấy trên cổ c a cháu Kang Hoàng Cát V có đeo sợi dây chuyền bằng kim lo i màu vàng nên nảy sinh ý định chiếm đo t M điều khiển xe gắn máy chở con và cháu đi về nhà c a mình Sau đó, M một mình điều khiển xe quay l i đ ng ruộng thì gặp cháu Q đang điều khiển xe đ p chở cháu V ch y trước, còn cháu Đ điều khiển xe đ p chở cháu D ch y ph a sáu cách 5 mét, trên đường liên hợ-hước An, thuộc ấp , xã P, huy n , Thành phố H h Minh M điều khiển xe ch y từ ph a sau và nói với Q, V là “có dính gì vào căm xe kìa, dừng l i để bị ngã”, nên Q dừng xe l i M dừng xe, dùng tay trái giật sợi dây chuyền c a V, r i cầm sợi dây chuyền chiếm đo t được trên tay trái tẩu thoát về nhà M Sau đó, M cầm sợi dây chuyền đến ti m vàng “Kim Ngân N” do bà S làm ch bán được số tiền 9 000 000đ, M tiêu xài cá nhân hết

Sau khi sự vi c xảy ra, cháu V về nhà nói với mẹ là bà Võ Thị Trường được biết và bà G đến ông an xã trình báo sự vi c Từ tr ch xuất camera an ninh và lời khai c a người làm chứng, ngày 02/5/2022, ơ quan ảnh sát điều tra đã tri u tập Trần Văn M đến làm vi c và M đã chỉ điểm nơi thực hi n hành vi, khai nhận hành vi ph m tội c a mình Quá trình chỉ điểm phát hi n thu giữ 01 mặt dây chuyền kim lo i màu vàng, hình tròn, bên trong có hình con r ng

Công an thu giữ vật chứng g m:

- 01 sợi dây chuyền vàng dài khoảng 37cm, nặng 7,49g, do bà Huỳnh Thị Sa Ly giao nộp; 01 mặt dây chuyền vàng hình tròn, nặng 3,75g, có khắc hình con r ng, bị rơi t i hi n trường được phát hi n, thu giữ khi tiến hành chỉ điểm hi n trường vụ án; ( ơ quan ảnh sát điều tra ông an huy n

hi đã trả l i bà Võ Thị Trường - Người giám hộ đương nhiên c a bị h i)

- Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đ vật c a Trần Văn M t m giữ: 01 nón bảo hiểm màu đen; 01 đôi dép nhựa màu đỏ; 01 quần vải sọc màu đen trắng; 01 xe gắn máy hi u Yamaha, lo i Nouvo, màu đen-đỏ, biển số 70F1-795 27, số khung DB10 Y008991, số máy 1DB1008989 (đã qua sử dụng).

T i bản kết luận định giá số 72/KL-HĐĐ TS ngày 30/5/2022 c a Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự đã kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng, hàm lượng vàng 99,58%, dài khoảng 37cm, nặng 7,49g, giá trị là 11.108.880đ và 01 mặt dây chuyền vàng, hàm lượng vàng 99,55%, hình tròn, nặng 3,75g, có khắc hình con r ng, giá trị là 5.560.000đ; tổng cộng giá trị tài sản là 16.668.900đ.

T i bản cáo tr ng số 164/CTr-VKS-HS ngày 06/9/2022 c a Vi n kiểm sát nhân dân huy n

hi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huy n

hi để xét xử Trần Văn M về tội “ ướp giật tài sản” theo quy định t i điểm d khoản 2 Điều 171 c a Bộ luật Hình sự.

T i phiên tòa, đ i di n Vi n kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Lời khai nhận tội c a bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo tr ng và các chứng cứ có t i h sơ Bị cáo vì mong muốn có tiền tiêu xài, đã có hành vi đang nổ máy xe gắn máy, lợi dụng sơ hở c a bị h i dùng tay trái giựt 01 sợi dây chuyền bằng vàng, có mặt bằng vàng c a cháu Kang Hoàng Cát V đang đeo trên cổ, có tổng giá trị là 16 668 900đ, qua trích xuất tr ch xuất camera an ninh và lời khai c a người làm chứng, bị cáo đã thừa nhận hành vi ph m tội. Do đó, đã có đ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn M đã ph m tội “ ướp giật tài sản” theo quy định t i điểm d khoản 2 Điều 171 c a Bộ luật Hình sự T i ơ quan ảnh sát điều tra và t i phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo cùng gia đình đã khắc phục b i thường toàn bộ thi t h i, tài sản chiếm đo t cũng đã trả l i cho bị h i; do đó đề nghị Hội đ ng xét xử: p dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52 c a Bộ luật Hình sự, xử ph t bị cáo Trần Văn M từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 sợi dây chuyền vàng dài khoảng 37cm, nặng 7,49g, do bà Huỳnh Thị Sa Ly giao nộp; 01 mặt dây chuyền vàng hình tròn, nặng 3,75g, có khắc hình con r ng thu giữ t i hi n trường; đã trả l i cho bị h i

+ Đối với 01 nón bảo hiểm màu đen, 01 đôi dép nhựa màu đỏ, 01 quần vải sọc màu đen trắng; đề nghị Hội đ ng xét xử tịch thu tiêu huỷ

+ Đối với 01 xe gắn máy hi u Yamaha, lo i Nouvo, màu đen-đỏ, biển số 70F1-795 27, số khung DB10 Y008991, số máy 1DB1008989, đã qua sử dụng; qua xác minh do ông Nguyễn Thanh H đứng tên đăng ký Ông H đã bán chiếc xe này cho 01 người không rõ họ tên đến nay chưa làm th tục sang tên. Bị cáo và vợ là bà Đào Thị Kim T đã mua l i chiếc xe này từ ửa hàng xe gắn máy Đức Hào do bà Trần Thị Kim O làm ch để bà T làm phương ti n đi làm công nhân hàng ngày ơ quan ảnh sát Điều tra ông an huy n

hi đã thông báo truy tìm ch sở hữu nhưng không có kết quả T i phiên toà, bà T có yêu cầu cho bà nhận l i chiếc xe trên để bà có phương ti n đi làm để nuôi 02 con nhỏ; đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận yêu cầu c a bà T.

Bị cáo Trần Văn M không tranh luận, không tự bào chữa

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi c a mình, xin Hội đ ng xét xử khoan h ng xử mức án nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm trở về cùng vợ nuôi 02 con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong h sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận t i phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng c a ơ quan điều tra ông an huy n

hi, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân huy n

hi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ luật Tố tụng hình sự Quá trình điều tra và t i phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định c a ơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a ơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp

Trong quá trình tố tụng; bị h i và người giám hộ đương nhiên có yêu cầu từ chối cử người bảo v quyền và lợi ch hợp pháp cho bị h i; xét thấy đây là sự tự nguy n c a bị h i và người giám hộ đương nhiên, nên Hội đ ng xét xử ghi nhận

Về tội danh và điều luật áp dụng:

T i phiên tòa bị cáo M đã khai nhận hành vi ph m tội đúng như cáo tr ng đã truy tố Lời khai nhận tội c a bị cáo phù hợp với các tài li u, chứng cứ có t i h sơ Bị cáo vì mong muốn có tiền tiêu xài cho bản thân, đã có hành vi điều khiển cho xe gắn máy dừng (nhưng cho nổ máy), dùng tay trái giựt 01 sợi dây chuyền bằng vàng, có mặt bằng vàng (bị rơi l i hi n trường), c a cháu Kang Hoàng Cát V (là người dưới 16 tuổi, sinh ngày 20/6/2012) đang đeo trên cổ, để đem đi bán có tiền tiêu xài, sau đó bị cáo bị ơ quan ảnh sát điều tra mời lên làm vi c, bị cáo thừa nhận hành vi ph m tội Kết luận giám định tài sản trong tố tụng hình sự đã kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng, hàm lượng vàng 99,58%, dài khoảng 37cm, nặng 7,49g, có giá trị là 11 108 880đ và 01 mặt dây chuyền vàng, hàm lượng vàng 99,55%, hình tròn, nặng 3,75g, có khắc hình con r ng, có giá trị là 5 560 000đ; tổng cộng giá trị tài sản là 16 668 900đ.

Vi n kiểm sát nhân dân huy n

hi truy tố bị cáo về tội “ ướp giật tài sản” theo quy định t i điểm d khoản 2 Điều 171 c a Bộ luật Hình sự và xác định tình tiết “ph m tội đối với người dưới 16 tuổi” là tình tiết tăng nặng theo điểm i khoản 1 Điều 52 c a Bộ luật Hình sự Hội đ ng xét xử nhận định tình tiết “ph m tội đối với người dưới 16 tuổi” là tình tiết định khung theo điểm g khoản 2 Điều 171 c a Bộ luật Hình sự.

Bằng hành vi trên, Hội đ ng xét xử có đ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn M đã ph m tội “ ướp giật tài sản” theo quy định t i điểm d, g khoản 2 Điều 171 c a Bộ luật Hình sự.

Về t nh chất, mức độ c a hành vi ph m tội:

Bị cáo nhận thức được vi c xâm ph m đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp c a công dân sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng vì mục đ ch để có tiền tiêu xài mà bị cáo bất chấp Hành vi c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm ph m trực tiếp đến tài sản hợp pháp c a công dân được pháp luật bảo v , gây mất trật tự an ninh xã hội. Do đó, Hội đ ng xét xử nghĩ cần áp dụng hình ph t phù hợp, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có đ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội và để bảo đảm đấu tranh phòng chống tội ph m nói chung Tuy nhiên cần xem xét t nh chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân c a bị cáo để có mức hình ph t tương xứng

Tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: T i cơ quan điều tra và t i phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã cùng gia đình đã tự nguy n khắc phục toàn bộ hậu quả cho người liên quan; do đó, Hội đ ng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự theo quy định t i điểm b, s khoản 1 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự

Mặc khác bị cáo là người mù chữ, thuộc thành phần lao động nghèo, là lao động ch nh c a gia đình đang phải nuôi dưỡng 02 con nhỏ; tài sản bị chiếm đo t cũng đã được trả l i cho bị h i; do đó Hội đ ng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự theo quy định t i khoản 2 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự

Về hình ph t bổ sung theo quy định t i khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự, xét thấy không cần thiết áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 sợi dây chuyền vàng dài khoảng 37cm, nặng 7,49g, do bà Huỳnh Thị Sa Ly giao nộp; 01 mặt dây chuyền vàng hình tròn, nặng 3,75g, có khắc hình con r ng (thu giữ t i hi n trường vụ án); ơ quan ảnh sát Điều tra ông an huy n Chi đã trả l i cho bị h i là phù hợp.

+ Đối với 01 nón bảo hiểm màu đen, 01 đôi dép nhựa màu đỏ, 01 quần vải sọc màu đen trắng; do bị cáo sử dụng khi thực hi n hành vi ph m tội, hi n không còn giá trị sử dụng; Hội đ ng xét xử quyết định tịch thu tiêu huỷ

+ Đối với 01 xe gắn máy hi u Yamaha, lo i Nouvo, màu đen-đỏ, biển số 70F1-795 27, số khung DB10 Y008991, số máy 1DB1008989 (đã qua sử dụng); quá trình tố tụng xác định do ông Nguyễn Thanh H đứng tên đăng ký, ông H đã bán chiếc xe này cho 01 người không rõ họ tên đến nay chưa làm th tục sang tên ơ quan ảnh sát Điều tra ông an huy n

hi đã thông báo truy tìm ch sở hữu nhưng không có kết quả T i phiên Toà, bị cáo và bà Đào Thị Kim T (vợ bị cáo) khai đã mua l i chiếc xe này từ ửa hàng xe gắn máy Đức Hào do bà Trần Thị Kim O làm ch , bằng tiền bảo hiểm c a bà T, để bà T làm phương ti n đi làm công nhân hàng ngày; hi n vợ ch ng bị cáo chỉ có chiếc xe trên làm phương ti n đi l i duy nhất nên bị cáo và bà T xin Hội đ ng xét xử cho bà T được nhận l i chiếc xe trên làm phương ti n đi làm hàng ngày có tiền nuôi 02 con nhỏ; Hội đ ng xét xử quyết định trả l i 01 xe gắn máy hi u Yamaha, lo i Nouvo, màu đen-đỏ, biển số 70F1-795 27, số khung DB10 Y008991, số máy 1DB1008989 cho bà T như đề nghị c a Vi n kiểm sát nhân dân huy n

hi là phù hợp

Về trách nhi m dân sự: Bị h i đã nhận l i tài sản, không có yêu cầu khác và có yêu cầu Hội đ ng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo do hoàn cảnh gia đình bị cáo quá khó khăn; Hội đ ng xét xử ghi nhận.

Đối với ông Trần H (là em ruột bị cáo), t i phiên toà ông H xác định do bị cáo là anh ruột c a ông, có hoàn cảnh quá khó khăn nên ông tự nguy n dùng số tiền 9 000 000đ là tiền cá nhân c a ông để khắc phục hậu quả thay cho bị cáo, ông không có yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền này

ăn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật ph và L ph số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Ủy ban Thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn M ph m tội “ ướp giật tài sản”

- p dụng điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử ph t bị cáo Trần Văn M 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời h n tù t nh từ ngày 03/5/2022.

- p dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Trả l i bà Đào Thị Kim T: 01 xe gắn máy hi u Yamaha, lo i Nouvo, màu đen-đỏ, biển số 70F1-795 27, số khung DB10 Y008991, số máy 1DB1008989;

Tịch thu tiêu huỷ: 01 nón bảo hiểm màu đen, 01 đôi dép nhựa màu đỏ, 01 quần vải sọc màu đen trắng;

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 162/ NK ngày 28/9/2022 c a ơ quan ảnh sát Điều tra ông an huy n

hi)

- p dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; p dụng Luật ph và L ph số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Trần Văn M phải chịu 200 000đ (hai trăm nghìn đ ng) tiền án phí hình sự sơ thẩm

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần H, bà Đào Thị Kim T được quyền kháng cáo bản án trong h n 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị h i, người giám hộ đương nhiên c a bị h i, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt t i phiên toà có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày được t nh từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết

Cỡ chữ