vanban.org

Bản án 232/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị Bé T về việc xin ly hôn anh Phạm Hiệp Đ.

Về con chung là Phạm Bảo Duy, sinh ngày 29/12/2019 hiện đang chung sống với chị Phan Thị Bé T. Khi ly hôn, tiếp tục giao con cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng và không đặt ra yêu cầu anh Phạm Hiệp Đ cấp dưỡng nuôi con, anh Đ có quyền đến thăm nom, chăm sóc và nuôi dạy con chung. Về tài sản chung và nợ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị Bé T về việc xin ly hôn anh Phạm Hiệp Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 232/2022/HNGĐ-ST
Ngày 15 – 9 – 2022
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thanh Liêm.

2. Ông Nguyễn Hoàng Dân.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Bích Như – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 15 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 352/2022/TLST - HNGĐ ngày 16/6/2022 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 238/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị Bé T, sinh năm 1990; Địa chỉ: ấp 6, xã Lương H, huyện Bến L, tỉnh Long An (xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Phạm Hiệp Đ, sinh năm 1980; Địa chỉ: Nhà không số, đường Nguyễn T, khóm 4, phường N, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Phan Thị Bé T và anh Phạm Hiệp Đ chung sống với nhau năm 2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình T, huyện Mộc H, tỉnh Long An. Theo chị T trình bày lúc đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khi chị mang thai thì giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng ý kiến nên vợ chồng thường hay cãi nhau và anh, chị đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

Về con chung, chị T và anh Đ có 01 người con là Phạm Bảo Duy, sinh ngày 29/12/2019, hiện đang chung sống với chị T. Khi ly hôn, chị T yêu cầu nuôi con và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung, chị T khai không có. Đồng thời, do ở xa và phải chăm sóc con nhỏ nên chị T yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt chị.

Đối với anh Phạm Hiệp Đ, tuy đã được Thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng anh không đến Toà, cũng không gửi văn bản để nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị T nên Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về thủ tục tố tụng, anh Phạm Hiệp Đ đã được thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do. Riêng chị Phan Thị Bé T đã có lời khai và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ vào quy định tại các Điều 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Đ, chị T.

Về hôn nhân, chị T và anh Đ chung sống với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh, chị được pháp luật công nhận và bảo vệ. Do anh Đ không trực tiếp đến Tòa cũng không gửi ý kiến bằng văn bản để phản bác hoặc phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của chị T nên lời trình bày của chị T về thời gian chung sống, thời gian sống ly thân, nguyên nhân mâu thuẫn được chấp nhận và cũng chính từ mâu thuẫn trên, chị T không còn tình cảm với anh Đ. Do đó, có căn cứ để nhận định rằng tình trạng hôn nhân giữa chị T với anh Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của chị T về hôn nhân là có căn cứ.

Về con chung là Phạm Bảo Duy, sinh ngày 29/12/2019, hiện đang chung sống với chị T. Khi ly hôn, chị T có yêu cầu được nuôi và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng, riêng anh Đ không có ý kiến gì về yêu cầu trên. Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, anh Đ không gửi văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị T để Tòa xem xét và tại phiên tòa, anh Đ vắng mặt nên chưa có cơ sở để khẳng định việc giao con cho anh Đ nuôi dạy sẽ đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con. Hơn nữa, cháu Duy hiện con nhỏ, chưa đủ 36 tháng tuổi nên giao cháu Duy cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Đối với việc cấp dưỡng nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của con, đảm bảo cho cuộc sống của con được đầy đủ, tốt hơn và thể hiện được trách nhiệm, tình thương của người làm cha, làm mẹ đối với con cái nhưng chị T không yêu cầu – Đây là ý chí tự nguyện, quyền tự định đoạt của chị. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung, chị T khai không có nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, chị T phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào các Điều 147, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị Bé T về việc xin ly hôn anh Phạm Hiệp Đ.

- Về con chung là Phạm Bảo Duy, sinh ngày 29/12/2019 hiện đang chung sống với chị Phan Thị Bé T. Khi ly hôn, tiếp tục giao con cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng và không đặt ra yêu cầu anh Phạm Hiệp Đ cấp dưỡng nuôi con, anh Đ có quyền đến thăm nom, chăm sóc và nuôi dạy con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung, chị Phan Thị Bé T khai không có, nên không đặt ra xem xét.

- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, chị Phan Thị Bé T phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 16/6/2022, chị T đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0001570 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ