vanban.org

Bản án 232/2020/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 12/08/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/08/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và l ph tòa án.

hông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Văn B. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ th m số 12/2020/DS-ST ngày 25/3/2020 của Tòa án nhân dân huy n T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và l ph tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 232/2020/DS-PT
Ngày: 12/8/2020
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguy n Thị Thanh

Các Thẩm phán:

ng Trương Phư c Tự

Bà ê Thị Trúc Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Thị Phương H ng – Th m tra viên Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân t nh Đồng Tháp: ng ê Thành Biên

- i m sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 05 và 12 tháng 8 năm 2020, tại trụ s Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp xét xử phúc th m công khai vụ án thụ lý số: 261/2020/TLPT-DS ngày 06 tháng 5 năm 2020 về “tranh chấp quy n s d ng đất .

Do Bản án dân sự sơ th m số 12/2020/DS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân huy n T bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc th m số 307/2020/QĐ-PT ngày 22 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: ng Ngô Văn B, sinh năm 1968; Địa ch : ấp T, xã P, huy n T, t nh Đ ng Tháp; C m t .

- Ngư i bảo v quyền và l i ch h p pháp của nguyên đơn: uật sư Phạm

Địa ch : thành phố Cao ãnh, t nh Đ ng Tháp. C m t

2. B đơn: Bà Nguy n Thị , sinh năm 1978; Địa ch : ấp T, xã P, huy n T, t nh Đ ng Tháp;

Đại di n theo ủy quyền của bà : Anh Nguy n Phư c T, sinh năm 1977; c m t

Địa ch : kh m 3, thị trấn T, huy n T, t nh Đ ng Tháp;

3. Ng i có quy n l i, ngh a v liên quan:

3.1. Bà Nguy n Thị Th, sinh năm 1967; Đại di n theo ủy quyền của bà Th là ông Ngô Văn B. C ng địa ch : ấp T, xã P, huy n T, t nh Đ ng Tháp.

3.2. ng Hu nh H ng S, sinh năm 1972 ch ng bà ) V ng m t ;

3.3. Anh Hu nh Thanh Nh, sinh năm 1998 con bà ) V ng m t ;

C ng địa ch : p P, xã P, huy n T, t nh Đ ng Tháp;

3.4. ng ê Văn Th, sinh năm 1979, Địa ch : ấp T, xã P, huy n T, t nh Đ ng Tháp. C m t

3.5. Ủy ban nhân dân huy n T; Địa ch : h m 5, thị trấn T, huy n T, t nh Đ ng Tháp.

Ngư i đại di n theo pháp luật: ng Hu nh Thanh S– Chức vụ: Chủ tịch. V ng m t, c đơn xin xét xử v ng m t .

4. Ng i kháng cáo: ng Ngô Văn B, là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn ông Ngô Văn B trình bày:

Vào năm 1997, ông B chuy n như ng quyền sử dụng đất v i ông V Tấn Th, di n t ch 2.160m2, năm 2003 ông Th chết nên bà Nguy n Thị H v ông Th) là ngư i đứng tên thừa kế, bà đã làm thủ tục chuy n quyền sử dụng cho ông B đứng tên. Sau đ , ông B chuy n như ng cho ông M di n t ch 195m2 và ông T di n t ch 396m2. Năm 2005, ông B đư c Ủy ban nhân dân huy n T cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy 00371/H, di n t ch đư c cấp là 1.509m2, thửa 222, t bản đ số 4, trong di n t ch đất này c cái hầm, dư i hầm c vài bụi bông súng tự mọc, ông B ch tr ng sả xung quanh b hầm, không sử dụng hầm. Đến năm 2016, chị chiếm sử dụng tr ng cây g m: dừa, chuối, mãng cầu và m t trên b hầm đất của ông B, dư i hầm thì không sử dụng. Vì gia đình ông B đi làm ăn xa nên thư ng xuyên v ng nhà, khi thấy chị tr ng cây, ông B đã nhiều lần ngăn cản và báo v i ch nh quyền địa phương. Ngày 28/3/2016, cán bộ địa ch nh xã P và Ban nhân dân ấp Th c đến lập biên bản, từ đ đến nay chị không tr ng cây thêm. Hi n di n t ch đất của ông B ch còn lại 395m2 sử dụng vào vi c tr ng cây tạp.

Vào ngày 14/8/2019, Văn phòng đăng ký đất đai, chi nhánh huy n T c đến xem xét, th m định tại ch đo di n t ch đất của ông B bị chị bao chiếm sử dụng, tổng di n t ch đất của ông B là 1.358m2. Tại biên bản xem xét, th m định tại ch , ông B yêu cầu xác định tại các mốc g m: 1,2,3,4,7,8,9,10,11,12,13. Vào ngày 10/10/2019, ông B c thay đổi yêu cầu, xác định các mốc như sau: 1,2,3,8,9,10,11,12,13 là phần đất của ông. Nay ông B yêu cầu chị trả phần đất hầm c di n t ch 1.000m2 th m định thực tế là 1.155m2). Đối v i cây tr ng trên b hầm như: dừa, chuối, mãng cầu và m t, ông thống nhất theo sự tự nguy n mà hai bên đã thỏa thuận, nếu di n t ch đất tranh chấp thuộc về ai thì ngư i đ tự thỏa thuận riêng.

- Đại diện theo ủy quy n của b đơn, anh Nguyễn Ph ớc T trình bày:

Di n t ch đất hầm ông Ngô Văn B yêu cầu chị Nguy n Thị trả khoảng hơn 1.000m2 là đất của chị , đất c ngu n gốc do ông Nguy n Tấn Th (Bảy Th là Cha chị chuy n như ng v i ông Nguy n Ch T vào năm 1996, sau khi chuy n như ng ông Bảy Th đã sử dụng liên tục. Năm 2000, ông Bảy Th chuy n như ng lại cho chị và chị đã đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất di n t ch là 1.600m2, chị tiếp tục sử dụng vào vi c tr ng cây như: dừa, chuối, mãng cầu và m t, từ đ đến nay không ai tranh chấp. Nay ông B cho rằng di n t ch đất hầm là của ông và ông yêu cầu chị trả lại cho ông toàn bộ di n t ch đất hầm, chị không đ ng ý. Chị yêu cầu Tòa án giải quyết điều ch nh lại một phần di n t ch đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Ngô Văn B đứng tên và yêu cầu Tòa án căn cứ theo pháp luật giải quyết.

- Ng i có quy n l i, ngh a v liên quan anh Huỳnh Hồng S trình bày:

Anh là ch ng của chị , phần đất tranh chấp là của gia đình anh sử dụng từ trư c đến nay nên anh không đ ng ý theo yêu cầu của ông B.

- Ng i có quy n l i, ngh a v liên quan anh Huỳnh Thanh Nh trình bày:

Anh là con của chị , phần đất tranh chấp là của gia đình anh đã sử dụng từ trư c đến nay nên anh không đ ng ý theo yêu cầu của ông B.

- Ng i có quy n l i, ngh a v liên quan anh Lê Văn Th trình bày:

Vào năm 2005, anh Th và v là Nguy n Thị Thanh Ng c h p đ ng chuy n như ng quyền sử dụng đất v i chị Nguy n Thị (Chị là chị ruột của chị Ng chiều ngang chạy dài theo t nh lộ 844 là 45m, chiều dài từ m lộ đến sau hậu là 40m. Hi n trạng di n t ch đất này một phần là đất nền nhà c chiều ngang 15m, dài 40m, phần còn lại là một cái hầm, c chiều ngang 30m, dài 40m. Sau khi chuy n như ng, v ch ng anh sử dụng liên tục, bên đất nền nhà thì cất nhà , bên hầm thì nuôi cá, quanh b hầm tr ng cây g m: dừa, chuối, mãng cầu và m t. Năm 2018, anh Th và chị Ng c ng thuận tình ly hôn và thỏa thuận anh Th đư c quyền sử dụng phần đất hầm, còn chị Ng sử dụng đất nền nhà hi n chị Ng đã đứng tên. Nay ông B và chị tranh chấp di n t ch đất hầm của anh, anh không c ý kiến và cũng không yêu cầu gì đối v i vụ ki n này.

- Ng i có quy n l i, ngh a v liên quan Ủy ban nhân dân huyện T trình bày:

Tại Công văn số 1114/UBND-NC ngày 06/9/2019 của Ủy ban nhân dân huy n T nội dung như sau: Ngày 19/01/2001, Ủy ban nhân dân huy n T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng số: 02790QSDĐ/60/H cho hộ bà Nguy n Thị , thửa đất số 221, di n t ch 1.600m2, t bản đ số 4, mục đ ch sử dụng đất thổ, tọa lạc tại xã P, huy n T, t nh Đ ng Tháp đư c thực hi n đúng trình tự, thủ tục, đối tư ng theo quy định pháp luật tại th i đi m cấp giấy. Tuy nhiên do không tiến hành đo đạc thực tế cấp theo sơ đ địa ch nh 299. Theo sổ bộ gốc Phòng tài nguyên và Môi trư ng đang quản lý th hi n di n t ch 600m2. Ngày 04/7/2012, UBND huy n T ban hành Quyết định số 24/QĐ-UBND.HC về vi c thu h i giấy chứng nhận QSDĐ 02790.QSDĐ/60/H cấp ngày 19/01/2001 của bà Nguy n Thị L thửa số 221 , lý do thông tin trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sai về di n t ch so v i h sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 21/12/2014, UBND huy n T cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho bà Nguy n Thị c số vào sổ CH03653, thửa 221, di n t ch 540m2, t bản đ số 4, mục đ ch sử dụng đất nông thôn, tọa lạc tại xã P, huy n T, t nh Đ ng Tháp. Hi n nay bà đã t ng cho quyền sử dụng đất cho bà Nguy n Thị Thanh Ng và bà Ng đã đư c Ủy ban nhân dân huy n T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH. 04220 ngày 25/8/2015.

Ngày 01/5/1995, Ủy ban nhân dân huy n T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01352/A cho ông V Tấn Th thửa 222, di n t ch 2.160m2, t bản đ số 4, mục đ ch sử dụng đất Hg, tọa lạc tại xã P, huy n T đư c thực hi n đúng trình tự, thủ tục nhưng sai một phần di n t ch, vì thửa đất này Ủy ban nhân dân xã P đã cấp một phần di n t ch cho ông Nguy n Ch T đã bán lại cho ông Nguy n Tấn Th (Cha bà sử dụng cho đến nay.

Tại th i đi m cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 222 cho ông V Tấn Th không tiến hành đo đạc thực tế, cấp theo sơ đ địa ch nh 299. Xuất phát từ vi c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông V Tấn Th thửa 222, di n t ch 2.160m2 là không đúng một phần di n t ch đất, dẫn đến vi c bà H v ông Th nhận thừa kế thửa 222 không đúng một phần di n t ch đất ông Ngô Văn B đang sử dụng.

Tại bản án sơ thẩm số 12/2020/DS-ST ngày 25/3/2020 của Tòa án nhân dân huyện T đã quyết định:

1. hông chấp nhận yêu cầu kh i ki n của ông Ngô Văn B về vi c yêu cầu chị Nguy n Thị trả lại quyền sử dụng đất di n t ch 1.155m2 thuộc một phần tại thửa 222, t bản đ số 4 do ông Ngô Văn B đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

2. Giử y phần di n t ch đất tranh chấp 1.155m2 , thuộc một phần của thửa 222, t bản đ số 4, do ông Ngô Văn B đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/7/2005 cho chị Nguy n Thị tiếp tục quản lý và sử dụng, cụ th như sau:

- Hư ng Đông: Giáp đất thửa 221 của chị Nguy n Thị Thanh Ng, từ mốc 3 đến mốc 8 c cạnh 39,98m.

- Hư ng Tây: Giáp phần còn lại của thửa 222 của ông Ngô Văn B, từ mốc 2 đến mốc 9, c cạnh 39,35m.

- Hư ng Nam: Giáp đất thửa 648, từ mốc 9 đến mốc 8 c cạnh 30,15m.

- Hư ng B c: Giáp t nh lộ 844, từ mốc 2 đến mốc 3 c cạnh 28,09m.

Đề nghị Ủy ban nhân dân huy n T thu h i di n t ch 1.155m2 , thuộc một phần thửa 222, t bản đ số 4, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ vào sổ cấp giấy 00371/H ngày 25/7/2005 do ông Ngô Văn B và bà Nguy n Thị Th đứng tên đ cấp lại di n t ch trên cho chị Nguy n Thị theo quy định

ng Ngô Văn B, bà Nguy n Thị Th và chị Nguy n Thị đư c đến cơ quan Nhà nư c c th m quyền đ điều ch nh lại quyền sử dụng đất và đăng ký quyền sử dụng theo quy định của pháp luật. Theo sơ đ đo đạc ngày 14/8/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huy n T và biên bản xem xét th m định tại chổ ngày 14/8/2019 của Tòa án nhân dân huy n T.

ng Ngô Văn B phải chịu tiền chi ph xem xét, th m định tại chổ là 9.080.000đ Ch n tri u không trăm tám mươi ngàn đ ng đã nộp xong .

3. Về án ph dân sự sơ th m:

- ng Ngô Văn B phải nộp số tiền 5.775.000đ Năm tri u bảy trăm bảy mươi lăm ngàn đ ng án ph dân sự sơ th m, nhưng đư c trừ vào số tiền tạm ứng án ph ông đã nộp 1.750.000đ theo biên lai số 0000365, quyền số 0000008, ngày 16/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huy n T. ng Ngô Văn B phải nộp thêm số tiền 4.025.000đ Bốn tri u không trăm hai mươi lăm ngàn đ ng .

Ngày 07/4/2020, ông Ngô Văn B kháng cáo toàn bộ bản án sơ th m.

- Tại phiên tòa phúc th m.

+ Lu t s b o vệ quy n và l i ích h p pháp của nguyên đơn trình bày: ng B yêu cầu chị trả phần đất hầm c di n t ch 1.000m2 th m định thực tế là 1.155m2). Vì vi c cấp đất cho ông B là đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, do đất của ông B mua của ông V Tấn Th và đư c sang tên quyền sử dụng đất vào năm 2003. Phần đất chị mua ch c 600m2, nên khi đư c cấp lần đầu ch c 600m2. Chị cho rằng di n t ch đất 1.600m2 là không c căn cứ, vì chị tự ghi thêm số 1 vào ph a trư c số 600, nên di n t ch tr thành 1.600m2, vấn đề này Thanh tra huy n đã xác minh và kết luận.

Như vậy, so sánh về 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông B là h p pháp, nên công văn của UBND huy n trả l i cho Tòa án cho rằng đất cấp cho ông B c sai về di n t ch là không đúng. Nên đề nghị Hội đ ng xét xử sửa án sơ th m, chấp nhận yêu cầu kh i ki n, yêu cầu kháng cáo của ông B. Nếu không chấp nhận yêu cầu của ông B thì xem xét về th m quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huy n T.

+ Anh Nguyễn Ph ớc T, đại diện theo ủy quy n của b đơn bà Nguyễn Th L trình bày: Anh T không đ ng ý theo yêu cầu của ông B, yêu cầu giữ nguyên bản án sơ th m. B i vì, ông Nguy n Tấn Th đã mua đất của ông T, th hi n trong giấy tay mua bán c ghi r chiều ngang dài, tứ cận và c ngư i làm chứng ký tên vào giấy mua bán ch nh là ông V Tấn Th cậu của ông B . Gia đình ông Nguy n Tấn Th đã tr ng cây, nuôi cá, cất nhà, nên khi kê khai đăng ký thì chị đăng ký 1.600m2 theo giấy mua bán. hi chị nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thấy ghi di n t ch 600m2, chị khiếu nại thì mấy tháng sau, cán bộ địa ch nh c đưa lại cho chị giấy chứng nhận quyền sử dụng đất m i di n t ch 1.600m2. Đối v i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất c ghi thêm số 1 trư c số 600, nhưng ngư i sửa không phải là chị .

- Đại di n Vi n i m sát nhân dân T nh phát bi u ý kiến:

Về tố tụng: Ngư i tiến hành tố tụng và ngư i tham gia tố tụng đã thực hi n đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc th m.

Về nội dung: Phần đất hầm tranh chấp 1.155m2 là của ông Nguy n Ch T chuy n như ng cho ông Nguy n Tấn Th (cha chị , sau đ cha chị cho chị sử dụng. Vì vậy, UBND huy n cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông V Tấn Th là sai di n t ch, không đúng theo quy định của uật đất đai. Căn cứ khoản 4 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huy n T giải quyết là không đúng th m quyền.

Do đ , đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng hoản 3 Điều 308, hủy bản án sơ th m, giao h sơ về cho Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp xét xử lại theo thủ tục chung.

Sau khi nghiên cứu các tài li u c trong h sơ, vụ án đã đư c xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Anh Hu nh H ng S và anh Hu nh Thanh Nh đã đư c Tòa án tri u tập h p l đến lần thứ 2, nhưng vẫn v ng m t tại phiên tòa c đơn xin xét xử v ng m t . Do đ , Hội đ ng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử v ng m t đối v i anh Sinh, anh Nhân.

[2 Về nội dung:

2.1 Xét kháng cáo của ông B, kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ th m, yêu cầu chị trả phần đất hầm c di n t ch 1.000m2 th m định thực tế là 1.155m2).

Xét thấy, phần đất tranh chấp là của ông V Tấn Th khai phá vào năm 1988. Do ông Nguy n Ch T là bộ đội phục viên về địa phương không c ch nên Ủy ban nhân dân xã P động viên ông V Tấn Th cho ông Nguy n Ch T đất đ cất nhà , ông V Tấn Th đ ng ý cho ông T sử dụng di n t ch đất ngang 45m, dài 40m. Sau khi nhận đất, ông T đã cất nhà và đào ao nuôi cá. Vi c này c những ngư i làm chứng như ông âm Văn D; bà Ngô Thị H, ông Phan Văn Ch và bà ê Thị B1 v ông Nguy n Ch T) xác nhận và c xác nhận của UBND xã. Đối v i ông B cho rằng phần đất tranh chấp ông V Tấn Th chuy n như ng cho ông Nguy n Thanh N, ông N chuy n như ng lại cho ông Âu Quang Đ. Sau đ , ông Đ chuy n như ng cho ông B. Tuy nhiên, ông Đ và ông N đều xác định: Phần đất ông N chuy n như ng của ông V Tấn Th, sau đ ông N chuy n như ng lại cho ông Đ chiều ngang 24m từ b đất hầm của ông T đo lên, dài vô t i đư ng nư c đầu hậu đất ruộng. Do đ , ông B cho rằng đất hầm của ông B là không c căn cứ.

Ngoài ra, tại Công văn số 1114/UBND-NC ngày 06/9/2019 của Ủy ban nhân dân huy n T cũng thừa nhận vi c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông V Tấn Th di n t ch 2.160m2 tại thửa 222, t bản đ số 4, do không đo đạc thực tế nên cấp sai di n t ch trên giấy cho ông V Tấn Th, trong đ c cả di n t ch đất hầm mà ông V Tấn Th đã cho ông Nguy n Ch T (ông T chuy n như ng lại cho ông Nguy n Tấn Th, cha của chị ). Sau khi mua đất, ông Nguy n Tấn Th đã sử dụng liên tục ổn định, không ai tranh chấp. Năm 2000, ông Nguy n Tấn Th cho con là chị Nguy n Thị toàn bộ di n t ch đất trên.

Từ những phân t ch trên, xét vi c Ủy ban nhân dân huy n T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông V Tấn Th luôn cả phần đất hầm của ông Nguy n Ch T đã chuy n như ng cho ông Nguy n Tấn Th ông Thành cho con là chị ) là không ph h p. Nên vi c bà H v ông V Tấn Th thừa kế đ chuy n như ng phần đất hầm cho ông B cũng không ph h p.

Do đ , Hội đ ng xét xử không chấp nhận yêu cầu kh i ki n và yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Văn B.

2.3 Xét vi c UBND huy n T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B, trong đ c cả di n t ch đất hầm của chị không đúng di n t ch là không ph h p. Nên căn cứ Điều 106 uật đất đai về đ nh ch nh, thu h i giấy chứng nhận đã cấp tại đi m d khoản 2 quy định: “Nhà n ớc thu hồi giấy ch ng nh n đã cấp trong các tr ng h p sau đây:....Giấy ch ng nh n đã cấp không đúng thẩm quy n, không đúng đối t ng s d ng đất, không đúng diện tích đất, không đủ đi u kiện đ c cấp,…. .

Vì vậy, UBND huy n T c trách nhi m thu h i, điều ch nh di n t ch đất 1.155m2 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông B đ cấp cho chị L theo đúng quy định của uật đất đai.

Xét Tòa án nhân dân huy n T giải quyết là c sai s t về th m quyền theo quy định tại hoản 4 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Hội đ ng xét xử xét thấy, về đư ng lối giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huy n là đúng, nếu hủy án sơ th m đ giao h sơ cho Tòa án nhân dân cấp T nh giải quyết sơ th m lại, thì đư ng lối giải quyết vụ án không khác so v i Tòa án nhân dân cấp huy n đã giải quyết. Do đ , Hội đ ng xét xử xét thấy, không cần thiết phải hủy bản án sơ th m.

[2.5 Xét ý kiến của uật sư, bảo v quyền và l i ch h p pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận yêu cầu kh i ki n của ông B, vì vi c phần đất này ông B đã mua của ông V Tấn Th và đã đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng trình tự, thủ tục; ngoài ra uật sư cũng đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét về th m quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huy n. Xét ý kiến của uật sư không c căn cứ đ chấp nhận như Hội đ ng xét xử đã phân t ch trên.

Đại di n Vi n ki m sát nhân dân T nh đề nghị Hội đ ng xét xử hủy bản án sơ th m, giao h sơ cho Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp giải quyết lại theo thủ tục chung. Xét thấy, như Hội đ ng xét xử đã phân t ch, sai s t của Tòa án nhân dân huy n không làm ảnh hư ng nội dung giải quyết vụ án, nên không cần thiết phải hủy bản án sơ th m. Do đ , không chấp nhận đề nghị của đại di n Vi n ki m sát.

Xét bản án sơ th m xét xử là c căn cứ về đư ng lối giải quyết, nên Hội đ ng xét xử giữ nguyên bản án sơ th m.

[2.8 Về án ph dân sự phúc th m: Do bản án sơ th m đư c giữ nguyên, nên ông B phải chịu án ph phúc th m theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các phần khác không c kháng cáo, kháng nghị c hi u lực pháp luật k từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 100, Điều 106 và Điều 106 và Điều 166 uật đất đai năm 2013;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và l ph tòa án.

Tuyên xử:

- hông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Văn B.

- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ th m số 12/2020/DS-ST ngày 25/3/2020 của Tòa án nhân dân huy n T.

1. hông chấp nhận yêu cầu kh i ki n của ông Ngô Văn B về vi c yêu cầu chị Nguy n Thị trả lại quyền sử dụng đất di n t ch 1.155m2 thuộc một phần tại thửa 222, t bản đ số 4 do ông Ngô Văn B đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

2. Buộc ông Ngô Văn B và bà Nguy n Thị Th giao quyền sử dụng đất di n t ch 1.155m2 , thuộc một phần của thửa 222, t bản đ số 4, do ông Ngô Văn B, bà Nguy n Thị Th đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/7/2005 cho chị Nguy n Thị tiếp tục quản lý và sử dụng, cụ th như sau:

- Hư ng Đông: Giáp đất thửa 221 của chị Nguy n Thị Thanh Ng, từ mốc 3 đến mốc 8 c cạnh 39,98m.

- Hư ng Tây: Giáp phần còn lại của thửa 222 của ông Ngô Văn B, từ mốc 2 đến mốc 9, c cạnh 39,35m.

- Hư ng Nam: Giáp đất thửa 648, từ mốc 9 đến mốc 8 c cạnh 30,15m.

- Hư ng B c: Giáp t nh lộ 844, từ mốc 2 đến mốc 3 c cạnh 28,09m.

(Theo sơ đ đo đạc ngày 14/8/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huy n T và biên bản xem xét th m định tại chổ ngày 14/8/2019 của Tòa án nhân dân huy n T).

Ủy ban nhân dân huy n T c trách nhi m thu h i di n t ch 1.155m2, thuộc một phần thửa 222, t bản đ số 4, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy 00371/H ngày 25/7/2005 do ông Ngô Văn B và bà Nguy n Thị Th đứng tên đ cấp lại di n t ch trên cho chị Nguy n Thị theo quy định của uật đất đai.

- Các đương sự đư c đến cơ quan Nhà nư c c th m quyền đ điều ch nh, đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

3. Về án ph dân sự sơ th m:

- ng Ngô Văn B phải nộp số tiền 5.775.000đ Năm tri u bảy trăm bảy mươi lăm ngàn đ ng án ph dân sự sơ th m, nhưng đư c trừ vào số tiền tạm ứng án ph ông đã nộp 1.750.000đ theo biên lai số 0000365, quy n số 0000008, ngày 16/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huy n T. ng Ngô Văn B phải nộp thêm số tiền 4.025.000đ Bốn tri u không trăm hai mươi lăm ngàn đ ng .

4. Về án ph phúc th m: ng Ngô Văn B phải chịu 300.000 đ ng tiền án ph phúc th m. hấu trừ 300.000 đ ng tiền tạm ứng án ph kháng cáo theo biên lai số 0002260 ngày 09/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huy n T. ng B không phải nộp thêm án ph phúc th m.

5. Chi ph xem xét, th m định tại ch là 9.080.000 đ ng Ch n tri u không trăm tám mươi ngàn đ ng : ng Ngô Văn B phải chịu đã nộp xong .

Các phần khác không c kháng cáo, kháng nghị c hi u lực pháp luật k từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc th m c hi u lực pháp luật k từ ngày tuyên án.

Trư ng h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 uật Thi hành án dân sự thì ngư i đư c thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự c quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 uật Thi hành án dân sự; th i hi u thi hành án đư c thực hi n theo quy định tại Điều 30 uật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ