vanban.org

Bản án 232/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị D - Bùi Thanh X"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN
HUYỆN C
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 232/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 25 – 12 – 2019
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính

Các vị Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Trí

Ông Nguyễn Văn Sol

-Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau.

Ngày 25 tháng 12 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện C, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 468/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2019. Về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 360/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị D, sinh năm 1965 (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Bùi Thanh K, sinh năm 1961 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp Láng Cùng, xã Thạnh Phú, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI D VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 09/10/2019, biên bản lời khai, lời trình bày tại Tòa của nguyên đơn bà Trần Thị D như sau:

- Về hôn nhân: Bà D và ông K chung sống với nhau năm 1983, không đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2002 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống nên ông K đánh đập bà nhiều lần. Gia đình đã nhiều lần hàn gắn nhưng vợ chồng không thể chung sống hạnh phúc, vợ chồng sống ly thân với nhau từ năm 2002 đến nay. Tại phiên tòa, bà D giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông K.

- Về con chung: Bà D trình bày vợ chồng chung sống có 07 người con chung tên là Bùi Thị Bé Hai, sinh năm 1984; Bùi Thị Bé Ba, sinh năm 1986; Bùi Thị Tiền, sinh năm 1988; Bùi Thị Nhiều, sinh năm 1990; Bùi Thanh Xinh, sinh năm 1992; Bùi Thanh Hon, sinh năm 1994 và Bùi Thị Giàu, sinh năm 1996. Hiện nay các con đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Bà D xác định trong thời gian chung sống bà và ông K không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà D trình bày bà và ông K không có nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với ông Bùi Thanh K, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã thông báo cho ông K biết về nội D yêu cầu tại đơn khởi kiện ngày 09/10/2019 nhưng ông K không có ý kiến gì. Tòa án triệu tập hợp lệ ông K để tham gia phiên hòa giải đến lần thứ hai nhưng ông K không đến và cũng không có văn bản gì gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà D. Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông K vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông K theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả trông luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tranh chấp giữa bà D và ông K là trông chấp Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông K có địa chỉ tại ấp Láng Cùng, xã Thạnh Phú, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện C thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về nội D tranh chấp của vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về hôn nhân: Bà D và ông K xác lập quan hệ hôn nhân năm 1983, mặc dù không có đăng ký kết hôn nhưng theo quy định của pháp luật đây là hôn nhân thực tế nên hôn nhân của bà D và ông K được pháp luật thừa nhận. Xét thấy, bà D và ông K đã sống ly thân từ năm 2002 đến nay là thời gian rất dài nhưng ông K không tạo điều kiện để hàn gắn vợ chồng được đoàn tụ, chứng tỏ mâu thuẩn của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà D được ly hôn với ông K.

Về con chung: Bà D và ông K có 07 người con chung tên là Bùi Thị Bé Hai, sinh năm 1984; Bùi Thị Bé Ba, sinh năm 1986; Bùi Thị Tiền, sinh năm 1988; Bùi Thị Nhiều, sinh năm 1990; Bùi Thanh Xinh, sinh năm 1992; Bùi Thanh Hon, sinh năm 1994 và Bùi Thị Giàu, sinh năm 1996. Xét thấy, các con của bà D và ông K hiện nay đã trưởng thành nên không xem xét, nếu con theo ai thì người đó nuôi.

Về tài sản chung: Bà D trình bày vợ chồng chung sống không có tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Bà D trình bày bà và ông K không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm các đương sự phải bàu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYEÁT ÑÒNH:

Căn cứ: Các Điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Caùc Đieàu 09, 51, 53 và 56 Luaät hoân nhaân vaø gia ñình naêm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyeân xöû:

- Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Thị D được ly hôn với ông Bùi Thanh K.

- Về án phí hoân nhaân vaø gia ñình sô thaåm:

Bà Trần Thị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Bà D có dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004828 ngày 10/10/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C được chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai bà D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. Nôi göûi:

Cỡ chữ