- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn H - Lò Văn N - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Quàng Văn H; Lò Văn N đều phạm tội "Mua bán
- Căn cứ chính? Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN _________ Bản án số: 232/2017/HS - ST Ngày 06 -10 - 2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đặng Thị Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Lò Văn Ơn
Bà: Mùa Thị Đớ
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Châm - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham
gia phiên toà: Bà N Thị Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 10 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên,
tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 236/2017/TLST - HS ngày 15 tháng 9 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 257/2017/HSST-QĐ ngày 22 tháng 9 năm 2017 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Quàng Văn H. Sinh năm 1968; tại: huyện Điện Biên, tỉnh Điện
Biên.
Tên gọi khác: Không.
Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: Đội 8b, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề
nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Quàng Văn D (đã chết); và bà: Quàng Thị K; có vợ: Lò Thị Q và 02 con, con lớn sinh năm 1990; con nhỏ sinh năm 1993; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 1930/PTHS ngày 25/12/2002 của Tòa án nhân dân Tối cao xử phạt bị cáo 08 năm tù về tội " Mua bán trái phép chất ma túy", bản án này bị cáo đã được xóa án tích. Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/5/2017; bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Lò Văn N. Sinh năm 1990; tại: Xã Phì Nhừ, huyện Điện Biên
Đông, tỉnh Điện Biên.
Tên gọi khác: Không
Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: Bản N, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề
nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn T; con bà: Lò Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án; không; tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/5/2017; bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ ngày 09/5/2017 Quàng Văn H đi bộ từ nhà Đội 8B, xã Thanh
Luông, huyện Điện Biên đến bãi thả trâu trên rừng. Khoảng 16 giờ cùng ngày khi đi về đến khu vực hồ Pe Luông, xã Thanh Luông, huyện Điện Biên thì gặp một người đàn ông dân tộc Thái (không biết tên và địa chỉ). Qua trao đổi biết người đàn ông có bán ma túy. H đã mua của người đàn ông đó 1.500.000đ hêrôin và hồng phiến. Sau khi nhận tiền người đó lấy hêrôin và hồng phiến ở túi vải đang đeo trên người ra và đưa cho H 01 (một) gói được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng, hơ lửa hàn kín bên trong có 13 viên hồng phiến và 01 (một) gói hêrôin được gói bằng vỏ kẹo màu xanh tiếp đến là lớp nilon màu xanh. H nhận lấy cất vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi về nhà. Khoảng 18 giờ cùng ngày, H ngồi ở bếp dùng dao lam chia số Hêrôin thành nhiều phần và gói lại thành các gói trong đó có: 15 gói được gói bằng giấy bạc màu vàng; 05 gói được gói bằng nilon màu trắng. Số Hêrôin còn lại H gói lại bằng nilon xanh, tiếp bên ngoài được gói bằng vỏ túi kẹo màu xanh buộc lại bằng dây nịt bỏ trong chiếc bao đựng kính giả da màu đen có chữ Safilo để trên nóc tủ đựng quần áo cạnh buồng ngủ của H. H dùng mảnh nilon trắng gói bên ngoài 07 gói Hêrôin đã được gói bằng giấy bạc màu vàng buộc thắt nút lại, cùng 01 gói Hêrôin được gói bằng nilon màu trắng cất ở trong túi ngực trái chiếc áo khoác màu đen của H treo ở cột nhà. Còn 08 gói Hêrôin đều được gói bằng giấy bạc màu vàng và 13 viên hồng phiến được gói bằng nilon trắng thì H bỏ trong bao đựng kính giả da màu nâu có chữ “Trung tâm đồng hồ kính mắt Hải Dương” và để ở túi quần bên phải đang mặc. 02 gói Hêrôin nhỏ đều được gói bằng nilon trắng thì H gói chung lại bằng mảnh nilon trắng thành 01 gói. H gọi Lò Văn N (là con nuôi) vào bếp và đưa cho N gói Hêrôin đó cùng 02 gói Hêrôin đều được gói bằng nilon trắng còn lại. N cầm lấy mở ra xem và hỏi H: “Hêrôin này bán thế nào hả bố?” H bảo N: “01 gói được gói bằng nilon trắng bên trong có 02 gói Hêrôin đều được gói bằng nilon màu trắng, con bán 100.000 đồng/gói, còn 02 gói Hêrôin to kia có ai hỏi thì con cấu ra mà bán, được tiền thì đưa cho bố. nếu lên cơn thèm thì con cứ lấy một ít ở 02 gói to ra mà dùng, coi như bố trả công cho con”. N đồng ý cất số Hêrôin H đưa ở túi quần bên phải đang mặc. Tối ngày 09/5/2017 N mở 01 gói Hêrôin được gói bằng nilon trắng lấy một ít hêrôin ra sử dụng bằng hình thức “Hít”. Đến khoảng 08 giờ ngày 10/5/2017 N tiếp tục lấy một ít Hêrôin sử dụng. Sau khi sử dụng xong N gói hêrôin và cất như cũ rồi đi làm vườn. Khoảng 09 giờ ngày 10/5/2017, H đang ở sân nhà, N đứng cách chỗ H khoảng 5m thì có một người thanh niên khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ) đến gặp và đã mua của H 100.000 đồng Hêrôin và 01 viên hồng phiến 70.000 đồng/ viên. H nhận tiền cất vào túi áo ngực bên trái đang mặc rồi bỏ bao đựng kính ở túi quần bên phải đang mặc ra, lấy 01 gói Hêrôin được gói bằng giấy bạc màu vàng và 01 viên hồng phiến đưa cho người thanh niên. Người thanh niên nhận lấy gói Hêrôin và viên hồng phiến rồi đi khỏi nhà H. Một lúc sau H và N đang đứng ở sân nhà thì tổ công tác Công an huyện Điện Biên phối hợp với Đồn biên phòng Thanh Luông và Công an xã Thanh Luông đến kiểm tra phát hiện thu giữ toàn bộ số vật chứng của H gồm: 01 bao đựng kính giả da màu nâu có khóa, trên mặt bao có chữ: “Trung tâm đồng hồ kính mắt Hải Dương” bên trong có: 01 gói Methamphetamine được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng, tiếp đến là 12 viên nén màu hồng trên mặt các viên có chữ WY; 07 gói hêrôin được gói bên ngoài bằng giấy bạc màu vàng và 170.000đ (gồm 1 tờ tiền mệnh giá 100.000đ, 1 tờ 50.000đ và 1 tờ 20.000đ).
Tổ công tác cũng đã thu giữ số vật chứng của N gồm: 03 gói hêrôin
(01gói được gói ngoài bằng 2 lớp nilon trắng; 01 gói được gói ngoài bằng nilon trắng tiếp đến là nilon xanh; 01 gói được gói ngoài bằng nilon trắng trong có 2 gói đều được gói bằng nilon trắng)
Hồi 14 giờ 05 phút ngày 10/5/2017 tổ công tác thực hiện Lệnh khám xét khẩn
cấp đối với chỗ ở của Quàng Văn H. Qua khám xét thu giữ: 01 chiếc áo khoác màu đen bên trong có 02 gói hêrôin được gói ngoài bằng nilon trắng (trong đó: 01 gói bằng nilon trắng; 01 gói miệng gói buộc thắt nút trong có 07 gói nhỏ được gói bằng giấy bạc màu vàng) thu ở cột nhà đầu giường ngủ của H; 01 bao đựng kính màu đen giả da, trên mặt bao có chữ Safila có khóa kéo cố định, mở trong có 01 gói hêrôin được gói bằng vỏ túi kẹo màu xanh có chữ Chochymilk và quấn dây nịt tiếp đến là nilon màu xanh thu trên nóc tủ quần áo cạnh buồng ngủ của H.
Tại các biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng ngày 10/5/2017 của Cơ
quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên và bản kết luận giám định số: 518/GĐ - PC54 ngày 25/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã xác định: Số vật chứng thu giữ của Lò Văn N khi bắt quả tang có trọng lượng 5,7 gam là hêrôin. Số vật chứng thu giữ của Quàng Văn H khi bắt quả tang gồm: 12 viên nén màu hồng có trọng lượng là 1,17 gam là Methamphetamine; các cục, bột màu trắng có trọng lượng 0,33 gam là hêrôin. Số vật chứng thu giữ của Quàng Văn H khi khám xét khẩn cấp gồm: Các cục, bột màu trắng có trọng lượng 11,93 gam là hêrôin.
Tại bản Cáo trạng số 170/QĐ -VKS - HS ngày 14/9/2017 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố bị cáo Quàng Văn H về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo điểm b, o khoản 2 Điều 194/BLHS; truy tố bị cáo Lò Văn N về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo điểm h khoản 2 Điều 194/BLHS. Tại phiên toà, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, o khoản 2 Điều 194/BLHS; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 53/BLHS. Xử phạt bị cáo Quàng Văn H từ 12 năm đến 12 năm 06 tháng tù. Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 194/BLHS; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53/BLHS. Xử phạt bị cáo Lò Văn N từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 41/BLHS và Điểm a, c, đ Khoản 2 Điều
76/BLTTHS; Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của H gồm: 1,17 gam Methamphetamine (Trích 0,2 gam gửi giám định không hoàn lại); 12,26 gam hêrôin (Trích 0,34 gam gửi giám định không hoàn lại). Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của N gồm: 5,7 gam hêrôin (Trích 0,2 gam gửi giám định không hoàn lại). Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 170.000 đồng của bị cáo H do bị cáo H phạm tội mà có. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo khoác màu đen và 02 bao kính giả da.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Áp dụng Điều
99/BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo
trạng và lời luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình
phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo Quàng Văn H: Ngày 09/5/2017, bị cáo
H đã có hành vi mua hêrôin và 13 viên Methamphetamine của 01 người đàn ông dân tộc thái, bị cáo không biết tên và địa chỉ chia thành nhiều gói nhỏ, cất giấu ở nhiều vị trí khác nhau tại nơi ở của bị cáo, với mục đích để sử dụng và bán lại kiếm lời. Cùng ngày bị cáo H đã đưa cho bị cáo N 03 gói hêrôin có trọng lượng 5,7 gam để bị cáo N bán. Ngày 10/5/2017 bị cáo H đã bán 01 gói heroin và 01 viên Methamphetamine cho một người thanh niên bị cáo không biết tên và địa chỉ thu được số tiền 170.000 đồng, bị cáo N đã biết và chứng kiến việc trao đổi mua bán ma túy giữa bị cáo H và người thanh niên này. Số Methamphetamine có trọng lượng 1,17 gam và số hêrôin có trọng lượng 12,26 gam hêrôin còn lại của bị cáo H cất giấu tại nơi ở của mình đã bị Công an huyện Điện Biên phát hiện và thu giữ. Lờ i khai của bị cáo H hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo N đồng thờ i phù hợp vớ i toàn bô ̣ số vâ ̣t chứ ng và số tiền đa thu giữ
̃ của các bị cáo.
Số hêrôin thu giữ của bị cáo N có trọng lượng là 5,7 gam là do bị cáo H
đưa cho N bán nên bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng trọng lượng hêrôin thu giữ của bị cáo và bị cáo N gồm 1,17 gam Methamphetamine và 17,96 gam hêrôin (5,7 gam + 12,26 gam = 17,96 gam). Bị cáo H đã thực hiện hành vi mua bán 02 chất ma túy mà hêrôin có trọng lượng quy định tại khoản 2 điều 194/BLHS, methamphetamine có trọng lượng quy định tại khoản 1 điều 194/BLHS. Sau khi quy đổi tổng tỉ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy so với mức tối thiểu ở khoản 3 điều 194/BLHS là dưới 100%, nên bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy đi ̣nh ta ̣i Điểm o Khoản 2 Điều 194/BLHS.
Bị cáo H đã 02 lần bán hêrôin và methamphetamine cụ thể. Ngày
09/5/2017 bị cáo đã đưa cho bị cáo N bán 5,7 gam hêrôin để trả công cho N bằng hêrôin và đã bán cho cho một người thanh niên 01 gói hêrôin và 01 viên methamphetamine thu lời được 170.000đ nên hành vi đó của bị cáo là yếu tố đi ̣nh khung hinh pha ̣t đối vớ i bi ̣ cáo theo Điểm b Khoản 2 Điều 194/BLHS.
̀
Xét hành vi phạm tội của bị cáo N: Ngày 09/5/2017 bị cáo N đã nhận
5,7 gam hêrôin của bị cáo H để bán lại cho người khác và được bị cáo N trả công bằng ma túy, bị cáo chưa kịp bán cho ai thì bị Công an phát hiện và thu giữ toàn bộ vật chứng. Hành vi của bị cáo N đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy đi ̣nh ta ̣i Điểm h Khoản 2 Điều 194/BLHS.
Cáo trạng của VKSND huyện Điện Biên truy tố các bị cáo là đúng người,
đúng tội và đúng pháp luật.
Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có sự bàn bạc, phân công
vai trò trách nhiệm cụ thể cho từng người nên vụ án không có tổ chức mà là đồng phạm giản đơn. Bị cáo H giữ vai trò là người khởi sướng, trực tiếp mua ma túy cất giấu và bán lại, bị cáo N là người thực hành giúp bị cáo H thực hiện hành vi bán ma túy. Vì vậy HĐXX sẽ căn cứ vào điều 53/BLHS để xem xét, cân nhắc mức hình phạt cho phù hợp với từng bị cáo.
Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp
luật về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các hành vi đó đa trực̃ tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm tới nền trật tự trị an an toàn xã hội, làm lan tràn tệ nạn nghiện ma tuý trên địa bàn, đồng thời tiếp tay cho những người chuyên mua bán các chất ma tuý tồn ta ̣i và phát triển.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự của các bị cáo thấy rằng: Đối với bị cáo Quàng Văn H, ngày 25/12/2002 bị cáo H bị Tòa án nhân dân Tối cao xử phạt 08 năm tù về tội về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và buộc bị cáo phải chịu 50.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 50.000đ án phí hình sự phúc thẩm. Ngày 30 tháng 8 năm 2005 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương ngày 25 tháng 9 năm 2007 bị cáo đã thi hành xong tiền án phí, bản án đã được xóa án tích, nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên toà các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điểm p Khoản 1 Điều 46/BLHS. Bị cáo Lò Văn N có bố đẻ là ông Lò Văn Tể đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, nên bị cáo N được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 46/BLHS.
Tuy nhiên HĐXX xét thấy các bị cáo đều nhận thức được tác hại của ma túy
nhưng vẫn cố tình vi phạm , do vâ ̣y cần phải áp dụng một hình phạt thật nghiêm khắc đối với các bị cáo là hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo có điều kiện cai nghiện đồng thời để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 194/BLHS,
ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, song xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, thu nhập chính từ làm ruộng nên khó có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Nguồn gốc số hêrôin thu giữ của các bị cáo, bị cáo H khai mua của
một người đàn ông Thái bị cáo không biết tên và địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ được. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Vật chứng gồm 1,17 gam Methamphetamine (Trích 0,2 gam gửi giám
định không hoàn lại); 12,26 gam hêrôin (Trích 0,34 gam gửi giám định không hoàn lại); 5,7 gam hêrôin (Trích 0,2 gam gửi giám định không hoàn lại) cần tịch thu tiêu hủy theo Điểm a Khoản 2 Điều 76/BLTTHS.
Đối với 01 chiếc áo khoác màu đen và 02 bao đựng kính giả da bị cáo H
dùng làm công cụ để cất giấu ma túy, HĐXX xét thấy những vật chứng trên đã cũ, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo Điểm đ Khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
Số tiền 170.000 đồng thu giữ của bị cáo H, là tiền do bị cáo H phạm tội
mà có nên cần ti ̣ch thu sung quỹ Nhà nướ c theo quy định tại Điểm b khoản 1 Điều 41/BLHS; Điểm c Khoản 2 Điều 76/BLTTHS
Về án phí: Theo quy định tại Điều 99/BLTTHS và Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Quàng Văn H; Lò Văn N đều phạm tội "Mua bán
trái phép chất ma tuý
- Căn cứ vào b, o khoản 2 Điều 194/BLHS; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều
53/BLHS.
Xử phạt bị cáo Quàng Văn H 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 10/5/2017.
- Căn cứ Điểm h khoản 2 Điều 194/BLHS; điểm p khoản 1 khoản 2 Điều
46/BLHS; Điều 53/BLHS.
Xử phạt bị cáo Lò Văn N 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 10/5/2017.
2. Vật chứng: Điểm b Khoản 1 Điều 41/BLHS và Điểm a, c, đ Khoản 2 Điều
76/BLTTHS;
- Tịch thu tiêu hủy 1,17 gam Methamphetamine (Trích 0,2 gam gửi giám
định không hoàn lại); 12,26 gam hêrôin (Trích 0,34 gam gửi giám định không hoàn lại); 5,7 gam hêrôin (Trích 0,2 gam gửi giám định không hoàn lại)
- Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc áo khoác màu đen và 02 bao đựng kính giả da
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền170.000 đồng do bị cáo H phạm tội mà có
(đã thu)
Vật chứng đã được Công an huyện Điện Biên bàn giao sang Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Điện Biên theo biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên ngày 20/9/2017.
3. Án Phí: Điều 99/BLTTHS và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên
án (06/10/2017).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ Nơi nhận:
THẨMTHẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- TAND Tỉnh;
- VKSND;
- Phòng HSNV CA tỉnh Điện Biên;
- Công an;
- Nhà tạm giữ;
- Các bị cáo;
- Chi cục T.H.A Dân sự;
- Sở Tư pháp;
- T.H.A HS;
Đặng Thị Thùy Dƣơng
- Lưu.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA HỘI THẨM NHÂN DÂN
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ Nơi nhận:
THẨMTHẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- TAND Tỉnh;
- VKSND;
- Phòng HSNV CA tỉnh Điện Biên;
- Công an;
- Nhà tạm giữ;
- Các bị cáo;
- Chi cục T.H.A Dân sự;
- Sở Tư pháp;
- T.H.A HS;
Đặng Thị Thùy Dƣơng
- Lưu.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA HỘI THẨM NHÂN DÂN
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ Nơi nhận:
THẨMTHẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- TAND Tỉnh;
- VKSND;
- Phòng HSNV CA tỉnh Điện Biên;
- Công an;
- Nhà tạm giữ;
- Các bị cáo;
- Chi cục T.H.A Dân sự;
- Sở Tư pháp;
Đặng Thị Thùy Dƣơng
- T.H.A HS;
- Lưu.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA HỘI THẨM NHÂN DÂN
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA HỘI THẨM NHÂN DÂN
Đặng Thị Thùy Dương
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ Nơi nhận:
THẨMTHẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- TAND Tỉnh;
- VKSND;
- Phòng HSNV CA tỉnh Điện Biên;
- Công an;
- Nhà tạm giữ;
- Các bị cáo;
- Chi cục T.H.A Dân sự;
- Sở Tư pháp;
- T.H.A HS;
Đặng Thị Thùy Dƣơng
- Lưu.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA HỘI THẨM NHÂN DÂN
Lò Văn Thương
Đặng Thị Thùy Dương
N Trọng Sơn
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ Nơi nhận:
THẨMTHẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- TAND Tỉnh;
- VKSND;
- Phòng HSNV CA tỉnh Điện Biên;
- Công an;
- Nhà tạm giữ;;
- Bị cáo;
- Người QLNVLQ;
- Chi cục T.H.A Dân sự;
- Sở Tư pháp;
Đặng Thị Thùy Dƣơng
- T.H.A HS;
- Lưu.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
HỘI THẨM NHÂN
NHÂN DÂN
TÒA
DÂN
Bạc Thị Kiên
Đặng Thị Thùy Dương
Quàng Văn
Minh
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ
THẨM
- TAND Tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
- VKSND;
TOÀ
- Phòng HSNV CA tỉnh Điện Biên;
- Công an;
- Nhà tạm giữ;;
- Bị cáo;
- Người QLNVLQ;
- Chi cục T.H.A Dân sự;
- Sở Tư pháp;
Đặng Thị Thùy Dƣơng
- T.H.A HS;- Lưu.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
HỘI THẨM NHÂN
NHÂN DÂN
TÒA
DÂN
Bạc Thị Kiên
Đặng Thị Thùy Dương
N Thị Tâm
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ
THẨM
- TAND Tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
- VKSND;
TOÀ
- Phòng HSNV CA tỉnh Điện Biên;
- Công an;
- Nhà tạm giữ;;
- Bị cáo;
- Chi cục T.H.A Dân sự;
- Sở Tư pháp;
- T.H.A HS
Đặng Thị Thùy Dƣơng
- Lưu.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
HỘI THẨM NHÂN
NHÂN DÂN
TÒA
DÂN
Phan Trung
Đặng Thị Thùy Dương
N Trung Hiếu
Dũng
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ
THẨM
- TAND Tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
- VKSND;
TOÀ
- Phòng HSNV CA tỉnh Điện Biên;
- Công an;
- Nhà tạm giữ;;
- Bị cáo;
- Chi cục T.H.A Dân sự;
- Sở Tư pháp;
- T.H.A HS
Đặng Thị Thùy Dƣơng
- Lưu.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ
THẨM
- TAND Tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
- VKSND;
TOÀ
- Phòng HSNV CA tỉnh Điện Biên;
- Công an;
- Nhà tạm giữ;;
- Bị cáo;
- Chi cục T.H.A Dân sự;
- Sở Tư pháp;
- T.H.A HS
Đặng Thị Thùy Dƣơng
- Lưu.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
HỘI THẨM NHÂN
NHÂN DÂN
TÒA
DÂN
Lò Văn Hải
Đặng Thị Thùy Dương
Lò Văn Thương
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ
THẨM
- TAND Tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
- VKSND;
TOÀ
- Phòng HSNV CA tỉnh Điện Biên;
- Công an;
- Nhà tạm giữ;;
- Bị cáo;
- Chi cục T.H.A Dân sự;
- Sở Tư pháp;
- T.H.A HS
Đặng Thị Thùy Dƣơng
- Lưu.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
HỘI THẨM NHÂN
NHÂN DÂN
TÒA
DÂN
Lò Thanh Hồng
Đặng Thị Thùy Dương
Lò Văn Ơn
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
TOÀ
- VKSND;
- Phòng HSNV CA tỉnh Điện Biên;
- Công an;
- Nhà tạm giữ;
- Bị cáo;
- Sở Tư Pháp;
- T.H.A hình sự CA tỉnh ĐB;
Đặng Thị Thùy Dƣơng
- Chi cục T.H.A Dân sự;
- Lưu.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
HỘI THẨM NHÂN
NHÂN DÂN
TÒA
DÂN
Quàng Văn
Đặng Thị Thùy Dương
Vì Văn Tiên
Hiêng
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
TOÀ
- VKSND;
- Phòng HSNV CA tỉnh Điện Biên;
- Công an;
- Nhà tạm giữ;
- Bị cáo;
- Sở Tư Pháp;
- T.H.A hình sự CA tỉnh ĐB;
Đặng Thị Thùy Dƣơng
- Chi cục T.H.A Dân sự;
- Lưu.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
HỘI THẨM NHÂN
NHÂN DÂN
TÒA
DÂN
Hoàng Xuân
Đặng Thị Thùy Dương
Vì Văn Tiên
Muôn
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
TOÀ
- VKSND;
- Phòng HSNV CA tỉnh Điện Biên;
- Công an;
- Nhà tạm giữ;
- Bị cáo;
- Sở Tư Pháp;
- T.H.A hình sự CA tỉnh ĐB;
Đặng Thị Thùy Dƣơng
- Chi cục T.H.A Dân sự;
- Lưu.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
HỘI THẨM
NHÂN DÂN
TÒA
NHÂN DÂN
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ
THẨM
- TAND Tỉnh ĐB;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
- VKSND huyện ĐB;
TOÀ
- Phòng HSNV CA tỉnh Điện Biên;
- Công an huyện Điện Biên;
- Nhà tạm giữ;
- Bị cáo;
- Người bào chữa;
- Chi cục T.H.A Dân sự;
- Sở tư pháp;
- T.H.A hình sự
Đặng Thị Thùy Dƣơng
- Lưu.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
HỘI THẨM
NHÂN DÂN
TÒA
NHÂN DÂN
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ
THẨM
- TAND Tỉnh ĐB;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
- VKSND huyện ĐB;
TOÀ
- Phòng HSNV CA tỉnh Điện Biên;
- Công an huyện Điện Biên;
- Nhà tạm giữ;
- Bị cáo;
- Chi cục T.H.A Dân sự;
- Sở tư pháp;
- T.H.A hình sự
- Lưu.
Đặng Thị Thùy Dƣơng
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
HỘI THẨM
NHÂN DÂN
TÒA
NHÂN DÂN
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ
THẨM
- TAND Tỉnh ĐB;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
- VKSND huyện ĐB;
TOÀ
- Phòng HSNV CA tỉnh Điện Biên;
- Công an huyện Điện Biên;
- Nhà tạm giữ;
- Bị cáo;
- Chi cục T.H.A Dân sự;
- Sở tư pháp;
- T.H.A hình sự
- Lưu.
Đặng Thị Thùy Dƣơng
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
HỘI THẨM
NHÂN DÂN
TÒA
NHÂN DÂN
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ
THẨM
- TAND Tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
- VKSND huyện ĐB;
TOÀ
- Phòng HSNV CA tỉnh Điện Biên;
- Công an huyện Điện Biên;
- Nhà tạm giữ;
- Bị cáo;
- Chi cục T.H.A Dân sự;
- Sở tư pháp;
- T.H.A hình sự
- Lưu.
Đặng Thị Thùy Dƣơng
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN
HỘI THẨM
NHÂN DÂN
TÒA
NHÂN DÂN
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND; - Phòng HSNV CA tỉnh Điện Biên; - Công an; - Nhà tạm giữ;; - Bị cáo; - Chi cục T.H.A Dân sự; - Lưu. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Thị Thùy Dƣơng HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN HỘI THẨM TÒA NHÂN DÂN N Văn Duy |