- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Công Thị Oanh.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 231/2026/HNGĐ-ST Ngày: 29 - 6 - 2026 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trà Minh Châu.
2. Ông Lê Hồng Điệp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Thừa - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ.
Trong ngày 29 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 351/2026/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 5 năm 2026, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 238/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công Thị Oanh; Sinh năm: 1989. Địa chỉ: Khu vực Long Hòa 2, phường Long Phú, thành phố Cần Thơ (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Lâm Hùng Ba; Sinh năm: 1981. Địa chỉ: Ấp Bờ Kinh, xã Trường Khánh, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 4 năm 2026, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Công Thị Oanh trình bày:
Về hôn nhân: Bà Công Thị Oanh và ông Lâm Hùng Ba có tổ chức tiệc cưới theo phong tục tập quán tại địa phương vào năm 2025, đến ngày 09/6/2025 có đến Ủy ban nhân dân xã Hậu Thạnh, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng cũ đăng ký kết hôn theo quy định, theo giấy kết hôn số 21. Sau khi cưới bà Oanh và ông Ba sinh sống tại ấp Bờ Kinh, xã Trường Khánh, thành phố Cần Thơ. Thời gian đầu cuộc sống hôn nhân vô cùng hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã. Cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Bà Oanh và ông Ba đã ly thân từ tháng 02/2026 đến nay. Nay bà Oanh xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và Ba không còn, nên bà Oanh yêu cầu ly hôn với ông Ba; Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Oanh và ông Ba không có con chung, nên bà Oanh không có yêu cầu gì; Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống bà Oanh và ông Ba không có tài sản chung và không có nợ chung, nên bà Oanh không có yêu cầu gì.
Bị đơn là ông Lâm Hùng Ba đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ mà vẫn cố tình vắng mặt, nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải, ông Ba không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cũng như không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Ba.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Ông Lâm Hùng Ba là bị đơn trong vụ án, ông Ba đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) tiến hành xét xử vắng mặt ông Ba.
[1.2] Đối với nguyên đơn bà Công Thị Oanh đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) tiến hành xét xử vắng mặt bà Oanh.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Công Thị Oanh và ông Lâm Hùng Ba là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nhưng ông bà không có gặp nhau để bàn bạc về việc hôn nhân của ông bà nhằm tạo điều kiện chung sống lại với nhau. Tại đơn khởi kiện ngày 16 tháng 4 năm 2026, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Oanh yêu cầu được ly hôn với ông Ba là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu của bà Oanh. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho bà Oanh được ly hôn với ông Ba.
Về con chung: Trong thời gian chung sống bà Oanh và ông Ba không có con chung, bà Oanh không có yêu cầu gì về con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Oanh không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Oanh phải chịu nghĩa vụ án phí đối với vụ án hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng; Ông Ba không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và Lệ phí; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Công Thị Oanh.
1. Về hôn nhân: Xử cho bà Công Thị Oanh được ly hôn với ông Lâm Hùng Ba.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Công Thị Oanh không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Công Thị Oanh phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, nhưng bà Oanh được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007385 ngày 17 tháng 4 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Như vậy, bà Công Thị Oanh đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm; Ông Lâm Hùng Ba không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bà Công Thị Oanh và ông Lâm Hùng Ba có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Cần Thơ; - VKSND khu vực 9 – Cần Thơ; - Phòng THADS khu vực 9 – Cần Thơ; - Các đương sự; - UBND xã Trường Khánh, TP. Cần Thơ; - Lưu: Hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Mỹ Xuyên |