- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Hữu H - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp ụng điểm a khoản 4 Điều 174 điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 231/2024/HS-ST Ngày: 16/5/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên
Thẩm phán: Ông Trương Công Huấn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Đức Hoan
2. Bà Nguyễn Thị Nở
3. Bà Lê Thị Xuân Lang
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Trần Quang Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số
256/2024/HSST, ngày 29/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
2060/2024/QĐXXST-HS ngày 22/4/2024 đối với bị cáo:
Hoàng Hữu H, sinh năm 1993 tại tỉnh T; nơi cư trú:70 Đặng Thái T,
phường T, thành phố H, tỉnh T; chỗ ở: 627 đường Hoàng S, phường V, Quận A,
Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: không ân tộc:
Kinh tôn giáo: không; giới tính: Nam uốc tịch: Việt Nam con ông Hoàng Hữu
H1 và bà Đỗ Thị N A; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị b t tạm giam
ngày 28/01/2022 có mặt tại phiên toà).
+ Người bào chữa: Luật sư Lê Nguyễn Quỳnh T, Văn phòng Luật sư
Quỳnh T, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Hoàng
Hữu H (có mặt).
Bị hại:
1.Ông Trần Đông H2, sinh năm 1967 Địa chỉ: 199 Nguyễn Văn Đ,
phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại iện theo ủy uyền: Ông Bùi Xuân T, sinh năm 1979 Địa chỉ: 1 Nam
H, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
2. Ông Nguyễn Duy T1, sinh năm 1974 Địa chỉ: Chung cư 9 Trường S, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh xin v ng mặt).
3. Bà Phạm Thị C, sinh năm 1957 Địa chỉ: 62 Khu ân cư T, Phường P,
Thành phố T xin v ng mặt).
4. Bà Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1964 Địa chỉ: 1 Lý Tự T, Phường V,
Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh v ng mặt).
5. Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1993 Địa chỉ thường trú: K22 Nguyễn
Văn T, Sơn T, Đà N, nơi ở: Cư xá Xuân Thủy K, 137 đường H, phường V, TP. H, tỉnh T xin v ng mặt).
6. Ông Huỳnh N Duy T2, sinh năm 1981 Địa chỉ: B4 Chung cư E, 167
Trần Trọng C, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm t t như sau:
Ngày 23/12/2020, Hoàng Hữu H là nhân viên bán hàng sale) của Công
ty Nreal thuộc Công ty cổ phần tập đoàn địa ốc N (Nland), địa chỉ số 125 đường Cách M, Phường B, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. H có nhiệm vụ tìm kiếm, giới thiệu khách hàng đối với các ự án bất động sản o Công ty Nlan tư vấn, môi giới, không được thu bất cứ khoản tiền nào của khách hàng, chỉ được hưởng hoa hồng đối với các giao ịch môi giới bất động sản thành công, thời hạn ký hợp đồng ịch vụ với công ty Nreal đến ngày 22/12/2021, nhưng đến ngày 01/08/2021 Công ty Nlan đã thông báo chấm ứt Hợp đồng ịch vụ với H.
Trong thời gian từ tháng 7/2021 đến tháng 8/2021, o tham gia đầu tư
thua lỗ nên H đã nảy sinh ý định liên hệ với khách hàng cũ của Công ty Nland mà trước đây H đã từng liên hệ, giao ịch khi còn làm nhân viên của Công ty Nreal, nhằm kêu gọi những người này đầu tư bằng hình thức đóng tiền cọc 200.000.000 đồng để giữ chỗ mua căn hộ Shophouse của ự án A tại Thành phố B, tỉnh Đ( ự án này o công ty Nlan phân phối). H cam kết trong vòng 01 tuần sẽ thu lợi nhuận 50.000.000 đồng/01 suất đặt cọc giữ chỗ, nhằm mục đích chiếm đoạt tiền, sử ụng vào mục đích cá nhân. Bằng hình thức trên, H đã chiếm đoạt tiền của các khách hàng cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Ngày 17/9/2021, Hoàng Hữu H gọi điện cho ông Trần Đông
H2, chào bán căn hộ Shophouse của ự án A tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. H nói suất đặt cọc giữ chỗ là 200.000.000 đồng và trong vòng 01 tuần bán lại sẽ có lợi nhuận 50.000.000 đồng. Do tin tưởng nên ông H2 đồng ý đóng tiền đặt cọc giữ chỗ mua 04 căn hộ, ông H2 chuyển 800.000.000 đồng vào tài khoản 19033541572011 của H mở tại ngân hàng T, với nội ung “ chuyển tiền mua Shophouse SH3-4.il, SH3-4.12 A Phoenix, mua booking 2 Shophouse SH3-4.13, SH3-4.14 A Phoenix”. Sau khi nhận được tiền của ông H2, H gọi điện thoại, nh n tin báo cho ông H2 biết ngày 18/9/2021 sẽ chuyển giấy tờ đặt cọc
cho ông H2. Đến ngày 18 và 19/9/2021, ông H2 nhiều lần gọi điện thoại, nh n
tin cho H để lấy hồ sơ đặc cọc mua căn hộ thì H nói đã chốt hồ sơ 03/04 căn hộ
và tiếp tục nói ông H2 mua thêm 02 căn nữa thì mới chốt được hồ sơ 04 căn hộ
đã đặt mua trước đó, nhưng ông H2 không đồng ý. Nghi ngờ đã bị H lừa đảo
chiếm đoạt 800.000.000 đồng, nên ông H2 tìm hiểu thì được biết H không còn là
nhân viên Công ty Nland, H không chuyển tiền đặt cọc về cho công ty mà chiếm
đoạt 800.000.000 đồng của ông H2.
Vụ thứ hai: Ngày 17/9/2021, H gọi điện cho ông Nguyễn Duy T1
thông ua giới thiệu của ông H2) tư vấn về việc đặt cọc giữ chỗ mua căn hộ
Shophouse của ự án A tại Thành phố B, tỉnh Đồng nai, với số tiền 200.000.000
đồng/01 suất, trong vòng 01 tuần, H sẽ tìm người sang lại và H sẽ giao giấy
nhận đặt cọc của công ty Nland cho ông T1, H hứa hẹn mỗi suất đặt cọc khi
sang nhượng sẽ lời 50.000.000 đồng, nếu không sang nhượng được thì sẽ làm
thủ tục huỷ hợp đồng đặt cọc với Công ty Nlan và nhận lại đủ tiền đã đặt cọc.
Do tin tưởng nên ông T1 đồng ý đặt cọc tiền giữ chỗ mua 02 căn hộ, cùng ngày
ông T1 đã sử ụng internet banking chuyển 400.000.000 đồng vào tài khoản
19033541572011 của H tại ngân hàng T. Sau khi chuyển tiền cho H, ông T1
nhiều lần yêu cầu H cung cấp giấy biên nhận đặt cọc, nhưng H hứa hẹn, rồi c t
liên lạc, nên ông T1 tìm hiểu, được biết H không còn là nhân viên công ty Nreal,
H không chuyển tiền đặt cọc về cho công ty mà chiếm đoạt 400.000.000 đồng
của ông T1.
Vụ thứ ba : Ngày 18/9/2021, H gọi điện cho bà Phạm Thị C giới thiệu
công ty Nlan đang có suất ưu đãi đặc cọc giữ chỗ mua căn hộ Shophouse của
ự án A, thành phố B, tỉnh Đvới giá nội bộ cho nhân viên công ty nên được ưu
đãi và cho biết đã tìm được khách mua 02 căn hộ Shophouse liền kề, sẽ sang
nhượng lại uyền mua với giá chênh lệnh là 100.000.000 đồng, trong thời gian
01 tuần sẽ giải uyết xong. H nói với bà C cần 400.000.000 đồng để thực hiện,
nhưng H không có tiền, nên đề nghị bà C bỏ ra 400.000.000 đồng để đóng tiền
đặt cọc giữ chỗ, khi bán được bà C sẽ nhận lại 400.000.000 đồng tiền đầu tư và
100.000.000 đồng tiền lãi,còn H chỉ nhận phí hoa hồng khi bán được hàng cho
Công ty. Do tin tưởng nên ngày 19/9/2021 bà C đã chuyển khoảng 70.000.000
đồng vào tài khoản số 19033541572011 của H tại ngân hàng T. Đến ngày
20/9/2021, bà C tiếp tục 02 lần chuyển khoản 130.000.000 đồng vào tài khoản
số 19033541572011 của H tại ngân hàng T. Sau khi bà Cchuyển tiền thì H
không chuyển tiền đặt cọc về cho công ty mà chiếm đoạt 200.000.000 đồng của
bà Chi.
Vụ thứ tư: Ngày 15/9/2021,H gọi điện cho bà Nguyễn Thị Minh T
giới thiệu là nhân viên bán hàng cho Công ty Nreal, tư vấn cho bà T đặt cọc suất
giữ chỗ ự án A - Đ, H nói với bà T o đang trong thời gian giãn cách xã hội
nên các bộ phận của công ty chỉ làm việc online mà không làm việc trực tiếp tại
công ty. Các thủ tục giao ịch đều ua nhân viên tư vấn, chuyển hồ sơ của khách
hàng tới mail, tài khoản của Nlan , sau đó Nlan chuyển “Giấy đăng ký giữ chỗ” tới khách hàng ua thư điện tử. Do tin tưởng ngày 16/9/2021, bà T đã chuyển tiền vào tài khoản của H số 19033541572011 mở tại ngân hàng T số tiền 70.000.000 đồng và lần thứ 2 vào ngày 17/9/2021, bà T chuyển cho H 100.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền của bà T thì H có chuyển ua Zalo cho bà T xem hình ảnh lệnh H chuyển tiền cho Công ty Nlan số tiền 100.000.000 đồng. Đến ngày 25/9/2021, bà T lên mail xem thì được công ty Nlan thông báo cho biết H đã bị công ty cho nghỉ việc từ ngày 25/7/2021, sau đó bà T gọi đến Công ty Nlan thì được biết H không chuyển tiền đặt cọc giữ chỗ về công ty mà chiếm đoạt của bà T số tiền 170.000.000 đồng
Vụ thứ năm: Ngày 28/8/2021, H gọi điện cho ông Nguyễn Thành N,
giới thiệu một số ự án của Công ty như A, N World - PT, N World - HT để đầu tư, H nói có suất ưu đãi nội bộ áp ụng cho cán bộ công nhân viên để kêu gọi anh Nhân hợp tác đầu tư mua căn Shophouse tại khu A - B, tỉnh Đvà hứa hẹn sẽ chia lợi nhuận 30% trên số tiền bỏ ra đầu tư và thu hồi vốn cùng lợi nhuận chậm nhất là vào ngày 13/9/2021. Do tin tưởng nên vào ngày 09/09/2021 anh N chuyển cho H số tiền 200.000.000 đồng và bị H chiếm đoạt.
Vụ thứ sáu: Vào khoảng đầu tháng 9 /2021, H gọi điện thoại cho ông
Huỳnh N Duy T2 giới thiệu là nhân viên kinh oanh của Công ty cổ phần tập đoàn địa ốc N (Nlan ) để tư vấn cho ông T2 mua nhà phố tại ự án NlWorld HT thuộc tỉnh BRVT, ông T2 đồng ý mua 01 căn và chuyển 100.000.000 đồng cho H để đặt suất giữ chỗ. Đến tháng 11/2021, ông T2 ký hợp đồng đặt cọc với người môi giới tên N, H nói với ông T2 N là người làm chung nhóm nên để N đứng ra làm môi giới nhằm tạo oanh số, sau khi ký hợp đồng ông T2 đã chuyển cho H 1.400.000.000 đồng nhằm đặt cọc mua căn hộ. Sau đó, cũng trong khoản thời gian tháng 11/2021, H đặt vấn đề mượn tiền để kinh oanh mua các căn phố, biệt thự tại các ự án của công ty Nlan và bán lại cho khách hàng để hưởng chênh lệch, H sẽ chia lợi nhuận cho ông T2 10% trên số tiền thu lợi khi bán căn hộ nêu trên ông T2 đồng ý. Từ ngày 13/10/2021 đến ngày 07/01/2022, ông T2 đã chuyển vào tài khoản cho H tổng cộng 12.619.000.000 đồng, sau đó H chuyển đóng tiền hợp đồng đặt cọc nhà phố mã sản phẩm ự án N-B.02-06 thuộc ự án On BC cho ông T2 với số tiền 1.191.968.709 đồng, chuyển trả lại cho ông T2 tổng số tiền 4.900.000.000 đồng. Khi ông T2 đòi lại tiền thì H viết giấy thoả thuận vay tiền và cam kết sẽ trả cho ông T2 số tiền này thành 02 đợt vào ngày 20/02/2022 và ngày 20/03/2022 nhưng sau đó ông T2 và các bị hại khác nộp đơn tố cáo H lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Tại Cơ uan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Hoàng
Hữu H khai nhận toàn bộ số tiền sau khi các khách hàng chuyển H đã sử ụng vào mục đích trả tiền đầu tư kinh oanh tiền điện tử bị thua lỗ và tiêu xài cá nhân, lời khai của H phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong vụ án.
Trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, gia đình bị cáo có cung cấp thêm tài liệu
thể hiện đã trả cho ông Nguyễn Thành N số tiền 200.000.000 đồng, bà Phạm Thị
C số tiền 20.000.000 đồng, ông N và bà C có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo H và
không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKSTPHCM-P2 ngày 04/12/2023, Viện
kiểm sát nhân ân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Hoàng Hữu H về
tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự
năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hoàng Hữu H đã thừa nhận các hành vi
phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai. Bị hại ông
Huỳnh Ngọc Duy T2 và bị cáo Hoàng Hữu H đối chiếu xác nhận số tiền bị cáo
H chiếm đoạt của ông T2 là 6.400.000.000 đồng.
Sau khi kiểm tra toàn bộ lời khai của bị cáo, cùng với các tài liệu chứng
cứ khác được đưa ra xem xét tại phiên tòa đại iệnViện kiểm sát nhân ân
Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên uan điểm truy tố bị cáo Hoàng Hữu H về
tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp ụng điểm a khoản 4, Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
xử phạt bị cáo Hoàng Hữu H từ 18 đến 20 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/01/2022.
Buộc bị cáo bồi thường về ân sự cho: Ông Trần Đông H2 số tiền
800.000.000 đồng ông Nguyễn Duy T1 số tiền 400.000.000 đồng bà Nguyễn
Thị Minh T số tiền 170.000.000 đồng ông Huỳnh Ngọc Duy T2 số tiền
6.400.000.000 đồng. Xử lý vật chứng theo uy định pháp luật.
Luật sư Lê Nguyễn Quỳnh T bào chữa cho bị cáo Hoàng Hữu H trình bày:
không tranh luận về tội anh, điều khoản truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề
nghị Hội đồng xét xử xem xét một số tình tiết giảm nhẹ như bị cáo không dùng
hình thức lừa đảo tinh vi xảo uyệt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo
đã bồi thường kh c phục một phần thiệt hại cho các bị hại, bị hại có đơn bãi nại
cho bị cáo, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, trước khi bị b t bị cáo là
người thờ cúng Liệt sĩ Hoàng Hữu Q, bị cáo là lao động chính trong gia đình lo
cho cha mẹ nên đề nghị xem xét áp ụng các điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều
51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 để xử bị cáo mức án thấp nhất.
Đồng thời, đề nghị xem xét số tiền bị cáo nợ ông T2 chỉ là giao ịch ân sự giữa
hai bên, không phải là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Đại iện Viện kiểm sát giữ nguyên uan điểm truy tố.
Trong phần nói lời sau cùng, bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải, mong Hội đồng
xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về gia đình, hòa nhập xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội ung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, uyết định tố tụng của của Cơ uan Cảnh sát điều tra Công
an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân ân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong uá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm uyền, trình tự, thủ tục uy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Hữu H, luật sư bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, uyết định của Cơ uan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, uyết định tố tụng của Cơ uan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hoàng Hữu H đã khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội o bị cáo gây ra như nội ung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân ân Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu trên. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ uan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở xác định: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Hoàng Hữu H đã đưa ra thông tin gian ối, liên hệ với các khách hàng của Công ty Nlan mà trước đây H đã từng liên hệ, giao ịch khi còn là nhân viên của Công ty Nlan , kêu gọi những người này đầu tư bằng hình thức đóng tiền đặt cọc để giữ chỗ mua căn hộ Shophouse của ự án A tại thành phố B, tỉnh Đ( ự án do Công ty Nlan phân phối), H cam kết trong vòng 01 tuần sẽ thu lợi nhuận 50.000.000 đồng/01 suất đặt cọc giữ chỗ. Do tin tưởng nên ông Trần Đông H2 đã chuyển 800.000.000 đồng, ông Nguyễn Duy T1 đã chuyển 400.000.000 đồng, bà Phạm Thị C đã chuyển 200.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Minh T đã chuyển 170.000.000 đồng, ông Nguyễn Thành N đã chuyển 200.000.000 đồng. Ngoài ra, H còn mượn tiền của ông Huỳnh Ngọc Duy T2 với lý o để kinh oanh mua các căn phố biệt thự tại các ự án của Công ty Nland và bán lại cho khách hàng để hưởng chênh lệch, chia lợi nhuận cho ông T2 10% trên số tiền thu lợi khi bán các căn hộ nêu trên. Nhưng thực tế H sử ụng tiền của ông T2 để trả tiền đầu tư kinh oanh tiền điện tử bị thua lỗ và tiêu xài cá nhân, chiếm đoạt của ông T2 số tiền 6.400.000.000 đồng. Tổng số tiền H chiếm đoạt của các bị hại là 8.170.000.000 đồng.
Với hành vi nêu trên, xét đã có cơ sở để kết tội bị cáo Hoàng Hữu H phạm
tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bản cáo trạng đã truy tố và lời luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội o bị cáo gây ra đã xâm phạm đến tài sản của người
khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm nhằm cải tạo, giáo ục riêng đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung đối với xã hội. Bị cáo phạm tội nhiều lần, đối với nhiều người nên còn bị áp ụng tình tiết tăng nặng “phạm tội từ 02 lần trở lên”
được uy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ
sung năm 2017.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có các tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: uá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo
đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có
tiền án, tiền sự, bị cáo đã bồi thường kh c phục một phần thiệt hại cho các bị
hại, bị hại ông Nhân, bà C có đơn bãi nại cho bị cáo nên xét có thể áp ụng điểm
s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung
năm 2017 đối với bị cáo.
Lập luận trên cũng là cơ sở để chấp nhận các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự của Luật sư bào chữa đề nghị và uan điểm của đại iện Viện
kiểm sát tại phiên tòa.
Ngoài ra, Hoàng Hữu H còn có hành vi mượn ông Trần Tuấn A số tiền
370.000.000 đồng, mượn của ông Nguyễn Bá N số tiền 200.000.000 đồng và
mượn của bà Nguyễn Thị Tường V 100.000.000 đồng, o đến hẹn không trả nên
các ông bà trên có đơn tố cáo. Quá trình điều tra xác định đây là giao ịch vay
mượn ân sự nên Cơ uan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh
không xem xét xử lý về hành vi trên là có căn cứ.
Về trách nhiệm ân sự:
Ông Nguyễn Thành N và bà Phạm Thị C không yêu cầu bị cáo bồi thường
gì thêm nên không xem xét giải uyết.
Cần buộc bị cáo Hoàng Hữu H bồi thường cho các bị hại số tiền mà bị cáo
đã chiếm đoạt cụ thể:
Ông Trần Đông H2 số tiền 800.000.000 đồng ông Nguyễn Duy T1 số
tiền 400.000.000 đồng bà Nguyễn Thị Minh T số tiền 170.000.000 đồng ông
Huỳnh Ngọc Duy T2 số tiền 6.400.000.000 đồng. Thi hành một lần ngay khi án
có hiệu lực pháp luật.
Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình
sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015;
Đối với 01 điện thoại của bị cáo xét thấy bị cáo sử ụng điện thoại vào
việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và ân sự sơ thẩm
theo uy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp ụng điểm a khoản 4 Điều 174 điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Hoàng Hữu H 16 mười sáu) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/01/2022.
Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Buộc bị cáo Hoàng Hữu H bồi thường cho các bị hại số tiền cụ thể: Ông
Trần Đông H2 số tiền 800.000.000 tám trăm triệu) đồng ông Nguyễn Duy T1 số tiền 400.000.000 bốn trăm triệu) đồng bà Nguyễn Thị Minh T số tiền 170.000.000 một trăm bảy mươi triệu) đồng ông Huỳnh N Duy T2 số tiền 6.400.000.000 sáu tỷ bốn trăm triệu) đồng. Thi hành một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất uy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật ân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 một) điện thoại i động hiệu Iphone XS Max, màu đen thực nhận 01 điện thoại màu đen:…8313, bể màn hình, không kiểm tra đời máy, imei o không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
Theo biên bản giao nhận tang vài vật số NK2024/220 ngày 18/3/2024 của
Cục Thi hành án ân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giám, thu, nộp, uản lý và sử ụng án phí và lệ phí toà án.
Buộc bị cáo Hoàng Hữu H phải chịu 200.000 hai trăm ngàn) đồng án phí
hình sự sơ thẩm và 116.170.000 một trăm mười sáu triệu một trăm bảy mươi ngàn) đồng án phí ân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được uyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại v ng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân ân tối cao (1) - TAND cấp cao tại TP.HCM (1) - VKSND TP.HCM; (3) - Cục THADS TP.HCM (1) - Sở Tư pháp TP.HCM (1) - Trại giam (1) - Bị cáo (1) - Luật sư (1) - Bị hại (6) - THAHS TP.HCM; (1) - PV06-CA TP. HCM; (1) -UBND xã nơi bị cáo cư trú (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ. (25) (5) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên |