vanban.org

Bản án 231/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công Tr.

Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị G phải chịu 5.850.000 đồng (năm triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng chẵn) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông Nguyễn Công Tr số tiền là 2.931.000 đồng (hai triệu chín trăm ba mươi mốt nghìn đồng) ông đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006302 ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công Tr.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ H
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 231/2024/DS-ST
Ngày: 25-6-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phương Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Phan Văn Siêng

- Ông Phan Á.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Không.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 105/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc: "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Công Tr, sinh năm 1983 (có mặt).

Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.

- Bị đơn: Bà Lê Thị G, sinh năm 1975 (có mặt).

Địa chỉ: Khu phố Lâm Trúc 2, phường Hoài Thanh, thị xã H, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Công Tr trình bày: Ngày 09/9/2022, ông cho bà Lê Thị G mượn số tiền 97.000.000 đồng, bà G hứa ngày 20/9/2022 bà sẽ trả bớt 5.000.000 đồng, số tiền còn lại bà G trả mỗi tháng 1.000.000 đồng tiền lãi và thanh toán tất cả vào đầu tháng 12 năm 2023 (âm lịch). Đến thời hạn trả nợ ông nhiều lần đòi nợ nhưng bà G không thực hiện đúng như lời hứa, không chịu trả nợ cho ông. Ngày 19/9/2022, ông cho bà G mượn 20.240.000 đồng để trả tiền bảo hiểm, bà G hứa đến ngày 12/12/2022 sẽ trả nhưng cho đến nay vẫn chưa trả. Nay ông Tr yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Lê Thị G trả số tiền 117.000.000 đồng, ông không yêu cầu tính lãi.

- Theo bản tự khai ngày 03/4/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Lê Thị G trình bày: Bà thừa nhận vào ngày 19/9/2022 có mượn của ông Nguyễn Công Tr số tiền 20.240.000 đồng. Còn số tiền 97.000.000 đồng là số tiền lãi trong quá trình hùn vốn làm ăn với ông Tr, nhưng do làm ăn thua lỗ nên bà không có tiền trả lãi. Do đó, ông Tr buộc bà viết thành giấy nợ. Nay ông Tr yêu cầu bà trả số tiền 117.000.000 đồng bà đồng ý nhưng hiện nay bà không có tiền trả, khi nào có tiền thì bà sẽ trả dần cho ông Tr.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng, thẩm quyền: Nguyên đơn ông Nguyễn Công Tr có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lê Thị G thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản và bị đơn bà G hiện đang cư trú trên địa bàn thị xã H, tỉnh Bình Định. Vì vậy, Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định thụ lý giải quyết là đúng thủ tục tố tụng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung: Tại phiên tòa bà Lê Thị G thừa nhận bà có viết giấy mượn của ông Nguyễn Công Tr số tiền 97.000.000 đồng vào ngày 09/9/2022 và mượn 20.000.000 đồng vào ngày 19/9/2022. Đối với số tiền 97.000.000 đồng bà G cho rằng đây là tiền lãi bà còn nợ ông Tr qua quá trình hùn vốn làm ăn nhưng bà không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho lời trình bày của mình. Do đó, có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Công Tr, buộc bà Lê Thị G trả cho ông Nguyễn Công Tr số tiền 117.000.000 đồng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Về lãi suất: Ông Tr không yêu cầu bà G trả lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với yêu cầu xin trả dần của bà G: Bà G xác định do điều kiện kinh tế khó khăn nên khi nào có tiền thì bà sẽ trả dần cho ông Tr. Yêu cầu của bà G không được ông Tr chấp nhận nên không có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Vì yêu cầu của ông Nguyễn Công Tr được chấp nhận nên bà G phải chịu số tiền án phí theo quy định pháp luật là: 5.850.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 357, 463, 466, 468, 469 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công Tr. Buộc bà Lê Thị G phải trả cho ông Nguyễn Công Tr số tiền 117.000.000 đồng (một trăm mười bảy triệu đồng).

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị G phải chịu 5.850.000 đồng (năm triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng chẵn) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông Nguyễn Công Tr số tiền là 2.931.000 đồng (hai triệu chín trăm ba mươi mốt nghìn đồng) ông đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006302 ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã H, tỉnh Bình Định.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

4.1. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ