- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKS-P7 ngày 30/8/2023 của Viện trưởng VKSND thành phố Buôn Ma Thuột; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành T1 - Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 244/2023/HS-ST ngày 23/8/2023 của TAND TP Buôn Ma Thuột về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 231/2023/HSPT Ngày 07/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Phương;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Nhung và bà Nguyễn Thị Hạnh Vân;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh Hương – Thư ký;
- Đại diện VKSND tỉnh Đắk Lắk: Bà Lê Thị Bích T - Kiểm sát viên.
Ngày 07 /11/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 253/2023/TLPT-HS ngày 06/10/2023 đối với bị cáo Nguyễn Thành T1 về tội “Cố ý gây thương tích” do có kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng VKSND TP Buôn Ma Thuột.
* Bị cáo có kháng cáo và bị kháng nghị:
Họ và tên: Nguyễn Thành T1, sinh năm 1986 tại Bình Định; Nơi cư trú: Số nhà F đường C, tổ dân phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ sắt; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1941 và bà Mai Thị H1, sinh năm 1947; Có vợ Phạm Thị Thu T2, sinh năm 1989 (đã ly hôn); Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 26/01/2023 sau khi đi nhậu xong Nguyễn Thành T1 đến quán cà phê “Nàng Vân” - địa chỉ số nhà B đường L, phuờng T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk do chị Đỗ Thị Kim V làm chủ. Khi đó T1 thấy chị Đỗ Thị Kim V (là người yêu cũ của T1) đang ngồi nhậu cùng các anh Phạm Điền K, Nguyễn Đức D, Sơn L và anh Nguyễn Mai Đ. Lúc này, chị V rủ T1 đến ngồi nhậu cùng, T1 đồng ý.
Quá trình ngồi nhậu, T1 thấy anh K ngồi cạnh chị V, T1 nghĩ giữa anh K và chị V có quan hệ tình cảm với nhau. T1 hỏi anh K “Mày có phải ở cây số ba không?”, anh K trả lời “Dạ em ở cây số ba”. T1 tiếp tục hỏi “Đây (chị V) là bồ của mày hả?” rồi giữa T1 và anh K lời qua tiếng lại với nhau. T1 bực tức rồi dùng tay trái cầm 01 chiếc ly thủy tinh đang uống bia, cao khoảng 08cm, đường kính rộng khoảng 07cm, đập 01 cái trúng vào vùng mặt của anh K làm vỡ ly thủy tinh, gây thương tích, chảy nhiều máu ở vùng mặt và trán. Sau khi được mọi người cùng can ngăn, T1 đi về nhà, còn anh K bỏ chạy lên trên gác của quán chị V. Mọi người đưa anh K đến Bệnh viện Đ1 để điều trị thương tích và trình báo công an.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 322/TgT-TTPY ngày 26/3/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận anh Phạm Điền K bị các vết thương sau đây:
+ Vết thương để lại sẹo hình chân chim 1/3 trong cung mày phải, bờ đều kích thước (4x0,1)cm, tỷ lệ 3%;
+ Xây xát da để lại sẹo giữa trán, phía trên đầu trong hai cung mày, dạng dấu nón, bờ đều, kích thước (1x0,1)cm, tỷ lệ 3%;
+ Vết thương để lại sẹo vùng 1/3 trong mi trên mắt trái, bờ đều, kích thước (1,5x0,1)cm, tỷ lệ 3%;
+ Vết thương để lại sẹo bờ trên đuôi cung mày trái, bờ đều, kích thước (1x0,1)cm, tỷ lệ 3%.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do từng thương tích của anh Phạm Điền K sau khi tổng hợp (cộng) các tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do từng thương tích theo Phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Điều 4 Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y hiện tại là: 11% (mười một phần trăm).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 244/2023/HS-ST ngày 23/8/2023 của TAND TP Buôn Ma Thuột đã quyết định: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành T1 03 (Ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về thời điểm chấp hành hình phạt, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí.
Ngày 30/8/2023 Viện trưởng VKSND thành phố Buôn Ma Thuột có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKS-P7 theo hướng giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Ngày 31/8/2023bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo giữ nguyên các lời khai tại cấp sơ thẩm, giữ nguyên nội dung kháng cáo và thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, cung cấp thêm tình tiết là đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại theo quyết định của tòa án cấp sơ thẩm, nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận nội dung kháng cáo.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thành T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội đúng pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T1 03 (Ba) năm tù là có phần nghiêm khắc. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND thành phố Buôn Ma Thuột, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 26/01/2023 tại quán cà phê “Nàng V” địa chỉ số nhà B đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, xuất phát ghen tuông cá nhân bị cáo Nguyễn Thành T1 đã có hành vi dùng 01 ly thủy tinh đánh trúng vùng mặt của anh Phạm Điền K gây thương tích, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh Phạm Điền K là 11%. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T3 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét kháng nghị của Viện trưởng VKSND thành phố Buôn Ma Thuột và kháng cáo của bị cáo với nội dung đề nghị giảm nhẹ hình phạt:
Xét mức hình phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là có phần nghiêm khắc. Bởi lẽ, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, tự nguyện bồi thường phần lớn thiệt hại theo yêu cầu của bị hại, được bị hại làm đơn bãi nại, không đề nghị xử lý hình sự. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vợ đã ly hôn, là lao động chính, trực tiếp nuôi 02 con nhỏ. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của bị hại theo quyết định của cấp sơ thẩm. Do vậy, mức hình phạt mà tòa sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là quá nghiêm khắc so với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, nên cần chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát và kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKS-P7 ngày 30/8/2023 của Viện trưởng VKSND thành phố Buôn Ma Thuột; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành T1 - Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 244/2023/HS-ST ngày 23/8/2023 của TAND TP Buôn Ma Thuột về phần hình phạt.
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành T1 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thành T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND TP Buôn Ma Thuột; - Công an TP Buôn Ma Thuột; - VKSND TP Buôn Ma Thuột; - Sở Tư Pháp; - CQTHAHS – Công an TP Buôn Ma Thuột; - CQTHADS TP Buôn Ma Thuột; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. - Cổng thông tin điện tử Tòa án. | TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Duy Phương |