vanban.org

Bản án 231/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thanh T là vợ chồng.

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch ông Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng, ông C đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006909 ngày 20/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được khấu trừ. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 n…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thanh T là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 231/2023/HNGĐ-ST
Ngày 24-7-2023
V/v tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Việt Xô.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng.

Bà Nguyễn Kim Lên.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Cẩm Hường là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Ngày 24 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 413/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2023 về “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 253/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1974 (có yêu cầu vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Bà Trần Thanh T, sinh năm 1978 (có yêu cầu vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án ông Nguyễn Văn C trình bày: Ông và bà Trần Thanh T tự nguyện thành hôn vào năm 1998, nhưng không đăng ký kết hôn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do bất đồng quan điểm, lối sống, không tự giải quyết được nên ông yêu cầu ly hôn với bà T.

Thời gian chung sống, ông và bà T có 03 con chung tên Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1999; Nguyễn Nguyên H, sinh năm 2002 và Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 2003. Các con đã thành niên, nên không đặt ra yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung không có, nên không đặt ra yêu cầu.

Do điều kiện công việc nên ông đề nghị vắng mặt khi giải quyết vụ án.

Bị đơn bà Trần Thanh T trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn C tự nguyện thành hôn vào năm 1998 là đúng, không có đăng ký kết hôn như ông C trình bày. Do có sự bất đồng quan điểm, lối sống, tính tình không hòa hợp nhau dẫn đến hôn nhân không còn hạnh phúc nên bà đồng ý ly hôn với ông C.

Vợ chồng có 03 con chung như ông C trình bày, do các con đã thành niên nên không đặt ra yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung không có, nên không đặt ra yêu cầu.

Do điều kiện công việc nên bà đề nghị vắng mặt khi giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Vụ việc theo yêu cầu của ông Nguyễn Văn C được Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thanh T có yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông C và bà T.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa ông C và bà T được xác lập vào năm 1998, nhưng không đăng ký kết hôn là chưa đảm bảo về trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập, nay có yêu cầu ly hôn, Tòa án căn cứ vào những quy định về chấm dứt hôn nhân theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết. Do quan hệ hôn nhân giữa ông C và bà T không đăng ký theo quy định của pháp luật, căn cứ Điều 53 và khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận ông C và bà T là vợ chồng.

Về con chung: Ông C và bà T có 03 con chung hiện đã thành niên và không đặt ra yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông C và bà T xác định không có và không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông C là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên ông C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Phần tạm ứng án phí ông C đã nộp được khấu trừ.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thanh T là vợ chồng.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch ông Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng, ông C đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006909 ngày 20/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được khấu trừ.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ