vanban.org

Bản án 231/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Bà Hồ Thị Phương Nh được ly hôn với Ông Ngô Quang Th. Giấy chứng nhận kết hôn số 17, quyển số 01 ngày 30/01/2012 của Ủy ban nhân dân xã Phú H không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ T
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 231/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 23 - 05 - 2023
“V/v ly hôn giữa
Bà Nh và ông Th”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ T, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Võ Văn Tám.

2.Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân HUYỆN PHÚ T, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện phú T, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 05 năm 2023, tại Tòa án nhân dân HUYỆN PHÚ T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 383/2022/TLST-HNGĐ ngày 31/10/2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 04 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Phương Nh, sinh năm 1992.

HKTT: Tổ 7, ấp Hưng Hòa, xã Phú H, huyện phú T, tỉnh An Giang.

Trú tại: tổ 6, ấp Bình Thới, xã Bình Th, huyện Châu P, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Ông Ngô Quang Th, sinh năm 1985.

Trú tại: ấp Hưng Hòa, xã Phú H, huyện phú T, tỉnh An Giang.

(các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 18/8/2022, quá trình tố tụng nguyên đơn Bà Hồ Thị Phương Nh trình bày:

Hôn nhân của ông Th và Bà Nh do tự tìm hiểu được sự đồng ý của hai người và gia đình nên tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống năm 2009, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú H. Giấy chứng nhận kết hôn số 17, quyển số 01, ngày 30 tháng 01 năm 2012, thời gian đầu chung sống hạnh phúc về sau phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải nhau về vấn đề tiền bạc, ông Th không quan tâm, chăm sóc vợ con lại còn đam mê cờ bạc gây nợ nần, vì thế vợ chồng hay cải nhau, tháng 07/2022 Bà Nh bỏ về nhà cha mẹ đẻ sống, vợ chồng ly thân, trong thời gian ly thân ông Th có điện thoại và tới lui thăm hỏi nhưng không có ý hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay tình cảm không còn yêu cầu được ly hôn với ông Th.

Về con chung: Bà Nh trình bày vợ chồng có hai con chung tên Ngô Quang M, sinh ngày 18/4/2012 và Ngô Minh M, sinh ngày 05/12/2014. Hai con chung đang sống với Bà Nh khi ly hôn Bà Nh yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Không.

Về nợ chung: Không. Ngày 08/12/2022 Bà Hồ Thị Phương Nh có đơn xin xét xử vắng mặt

Bị đơn Ông Ngô Quang Th vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý vụ án, nên không có ý kiến trình bày.

Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân được đại diện ban ấp Hưng Hòa cho biết: Ông Ngô Quang Th, sinh năm 1985 hiện tại còn sinh sống và đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Hưng Hòa, xã Phú H, huyện phú T, tỉnh An Giang. Ông Th, Bà Nh là vợ chồng mâu thuẫn như thế nào thì không rõ nhưng hiện tại không còn thấy Bà Nh ở chung nhà với ông Th. Ông Th và gia đình hiện tại đi làm xa thỉnh thoảng mới về nhà sau đó lại đi tiếp.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về quá trình tiến hành tố tụng và đề xuất như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Hôn nhân của ông Th và Bà Nh do tìm hiểu rồi thành vợ chồng, hôn nhân có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và ly thân, từ khi ly thân đến nay không hàn gắn được. Nên yêu cầu ly hôn của Bà Nh là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Về con chung: Hai con chung tên Ngô Quang M, sinh ngày 18/4/2012 và Ngô Minh M, sinh ngày 05/12/2014. Hai con chung đang sống với Bà Nh khi ly hôn Bà Nh yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Bà Nh khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Th nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Bà Hồ Thị Phương Nh có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn Ông Ngô Quang Th được tống đạt các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa, nhưng ông, bà không có mặt nên HĐXX xét xử vắng mặt ông, bà theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hiện tại ông Th có nơi cư trú tại ấp Hưng Hòa, xã Phú H, huyện phú T, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện phú T, tỉnh An Giang.

[2.] Về nội dung:

Hôn nhân của Bà Nh và ông Th được xác lập năm 2009 có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng.

Xét về yêu cầu ly hôn, thấy rằng: Trong thời gian chung sống vợ chồng ông Th, Bà Nh có nhiều mâu thuẫn nên thường xuyên cải vã, mâu thuẫn kéo dài, đời sống tình cảm ngày càng trầm trọng. Tháng 7/2022 Bà Nh bỏ về nhà cha mẹ đẻ sống, vợ chồng ly thân, trong thời gian ly thân Bà Nh, ông Th không hàn gắn được tình cảm vợ chồng, đều này phù hợp với các chứng cứ Tòa án thu thập được.

Theo quy định tại Điều 19, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau….”. Thế nhưng vợ chồng ông Th, Bà Nh không còn chung sống khoảng mười tháng nay là khoảng thời gian dài. Điều này chứng tỏ vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cũng như không thể chia sẻ công việc trong gia đình với nhau được nữa, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thống nhất cho Bà Nh được ly hôn với ông Th.

[3] Về con chung: Bà Nh trình bày vợ chồng có hai con chung tên Ngô Quang M, sinh ngày 18/4/2012 và Ngô Minh M, sinh ngày 05/12/2014. Hai con chung đang sống với Bà Nh khi ly hôn Bà Nh yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng cho con. Con chung chưa thành niên, tại bảng tự khai ngày 22/11/2022 cháu Minh, cháu Mẫn có nguyện vọng đươc sống chung với Bà Nh .Xét thấy từ khi ly thân đến nay hai con chung đang sống với Bà Nh, có cuộc sống ổn định, nên tiếp tục giao cháu Minh và cháu Mẫn, cho Bà Nh nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Bà Nh không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Bà Nh trình bày tài sản chung, nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nhưng sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

[4] Về án phí: Bà Nh phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

-Điều 19, Khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

-Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Bà Hồ Thị Phương Nh được ly hôn với Ông Ngô Quang Th.

Giấy chứng nhận kết hôn số 17, quyển số 01 ngày 30/01/2012 của Ủy ban nhân dân xã Phú H không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Giao hai con chung tên Ngô Quang M, sinh ngày 18/04/2012 và Ngô Minh M, sinh ngày 05/12/2014 cho Bà Hồ Thị Phương Nh được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Hai con chung hiện đang sống với Bà Nh. Ông Ngô Quang Th không phải cấp dưỡng cho con.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, cơ quan tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung: Không.

Nợ phải thu, phải trả chung của vợ chồng: Không.

Về án phí: Bà Hồ Thị Phương Nh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005690 ngày 28/10/2022 của Chi cục Thi hành án huyện phú T, tỉnh An Giang. Bà Hồ Thị Phương Nh không phải nộp thêm án phí.

Ông Ngô Quang Th không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nh, ông Th vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo đối với bản án là 15 ngày tính từ ngày ông, bà nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ