- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "T-Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của chị Võ Thị Cẩm T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 231/2023/HNGĐ-ST Ngày 14/9/2023 V/v “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Đặng Thị Thảo Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trung Nhân
Ông Phạm Trung Thành
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Công Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Thêm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 425/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Võ Thị Cẩm T, sinh năm 1995 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp A, phường A, Tp. H, tỉnh Đ.
Bị đơn: Anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1991 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 2, xã T, huyện C, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Võ Thị Cẩm T trình bày: Chị và anh Ngô Văn Đ kết hôn với nhau năm 2011, anh chị có 02 con chung tên Ngô Võ Minh V, sinh ngày 17/11/2011 và Ngô Võ Minh T, sinh ngày 10/3/2015. Năm 2018 chị và anh Đ ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 129/2018/QĐST-HNGĐ ngày 13/9/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, theo thỏa thuận thì chị giao 02 con chung cho anh Đ trực tiếp nuôi, chị không cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn thì anh Đ có vợ mới nhưng vợ của anh Đ đối xử không tốt với 02 đứa con của chị nên làm ảnh hưởng đến tâm lý của các cháu. Mặc khác, do anh Đ không có công việc ổn định không đủ điều kiện kinh tế để chăm sóc cho các con nên chị yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa chị thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Minh V, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con, đối với cháu Minh T do có nguyện vọng được ở với cha nên chị đồng ý giao cháu Minh T cho anh Đ trực tiếp nuôi, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Bị đơn anh Ngô Văn Đ có đơn xin giải quyết vắng mặt, nhưng tại tờ tự khai ngày 18/8/2023 thì anh không đồng ý giao 02 con chung cho Chị T nuôi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè phát biểu về trình tự, thủ tục tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử, quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền và thời hạn xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Phát biểu về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của Chị T, giao cháu Minh V cho Chị T trực tiếp nuôi, giao cháu Minh T cho anh Đ trực tiếp nuôi, Chị T và anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị T có đơn khởi kiện yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung sau khi ly hôn, nên đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo quy định tại khoản 3 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do bị đơn có hộ khẩu thường trú tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Đ có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt anh Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Tại đơn khởi kiện Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung tên Ngô Võ Minh V, sinh ngày 17/11/2011 và Ngô Võ Minh T, sinh ngày 10/3/2015 sau khi ly hôn. Nhận thấy, theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 129/2018/QĐST-HNGĐ ngày 13/9/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp thể hiện: Chị T và anh Đ thuận tình ly hôn, Chị T đồng ý giao 02 con chung cho anh Đ trực tiếp nuôi, chị không cấp dưỡng nuôi con, do khi ly hôn Chị T chưa đủ điều kiện kinh tế để nuôi con và hai cháu cũng có nguyện vọng được ở với cha vì từ nhỏ hai cháu đã ở bên nội. Sau khi ly hôn thì anh Đ đã có vợ mới nhưng Chị T cho rằng vợ của anh Đ đối xử không tốt với 02 đứa con của chị làm ảnh hưởng đến tâm lý của các cháu, cháu Minh V thường xuyên nhắn tin nói muốn được về ở với chị. Mặt khác, anh Đ không có công việc ổn định nên không đủ điều kiện kinh tế để chăm sóc các con, hiện tại chị đang kinh doanh buôn bán gạo có thu nhập ổn định và cháu Minh V cũng có nguyện vọng muốn được về ở với mẹ nên chị yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Minh V. Xét thấy, tại biên bản xác minh ngày 18/8/2023 thể hiện anh Đ hiện tại đang làm thuê thu nhập không ổn định và tại biên bản lấy lời khai thì cháu Minh V cũng có nguyện vọng muốn ở với mẹ. Do đó, yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của Chị T là phù hợp với nguyện vọng của cháu Minh V, có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Tại phiên tòa Chị T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, đồng ý giao cháu Minh T cho anh Đ trực tiếp nuôi do cháu có nguyện vọng được ở với cha, việc thay đổi yêu cầu của Chị T là tự nguyện phù hợp với nguyện vọng của cháu Minh T nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Anh Đ phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: Chị T và anh Đ được quyền kháng cáo theo qui định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự,
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của chị Võ Thị Cẩm T.
Giao con chung tên Ngô Võ Minh V, sinh ngày 17/11/2011 cho chị Võ Thị Cẩm T trực tiếp nuôi, giao cháu Ngô Võ Minh T, sinh ngày 10/3/2015 cho anh Ngô Văn Đ trực tiếp nuôi, chị Võ Thị Cẩm T và anh Ngô Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do không ai yêu cầu.
Anh Ngô Văn Đ và chị Võ Thị Cẩm T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.
2. Án phí: Anh Ngô Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Hoàn lại cho chị Võ Thị Cẩm T 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012644 ngày 26 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnhTiền Giang; - VKSND Cái Bè; - CCTHADS Cái Bè; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thảo Lan |