- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "ngân hàng Sacombank - Bùi Ngọc Thành"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐT ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN Về việc ban hành Quy chế cho…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TT PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 231/2023/DS-ST Ngày: 17-5-2023 V/v: tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ-TT PHỐ HỒ CHÍ MINH
- TT phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Hương Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Quang Cảnh
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An TT, Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, TT phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự, thụ lý số 609/2022/DSST ngày 05 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2023/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 268/2023/QĐST-DS ngày 20 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP SS
Địa chỉ: 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh TTT – sinh năm 1973
Địa chỉ: 80/117 đường số 8, Phường 11, quận Gò vấp, Tp. Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Bùi Ngọc TT – sinh năm 1979
Địa chỉ: 32/2/12 Q, phường P, quận W, Tp. H
( Ông TTT có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà TT vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/11/2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ngân hàng TMCP SS có ông Nguyễn Mạnh TTT là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 20/6/2019 bà TT có ký với ngân hàng TMCP SS (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà TT, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 45,000,000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân và với lãi suất là 2,6%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà TT đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 480.106.000 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà TT đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 435.607.000 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà TT vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà TT vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/08/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 52,284,490 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 3.9%/tháng (= Lãi suất trong hạn 2.6%/tháng x 150%).
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà TT, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên bà TT vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu
- Buộc bà Bùi Ngọc TT phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 17/5/2023 là 120.118.550 đồng (Bằng chữ: Một trăm hai mươi triệu một trăm mười tám nghìn năm trăm năm mươi đồng) trong đó:
- Dư nợ gốc: 52.284,490 đồng
- Lãi quá hạn: 67.834.060 đồng
Bà Bùi Ngọc TT có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 18/5/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng đã ký giữa các bên.
Thời hạn và phương thức thanh toán: một lần, ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực thi hành
Bị đơn bà Bùi Ngọc TT đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng bà TT đều vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt theo qui định nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Mạnh TTT có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn bà Bùi Ngọc TT vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TT phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đều tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo nguyên tắc xét xử, TT phần Hội đồng xét xử đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ đơn khởi kiện ngày 18/11/2022 của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bà Bùi Ngọc TT có nơi cư trú tại quận Tân Phú nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú giải quyết là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐT ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao..
.Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn do ông Nguyễn Mạnh TTT đại diện theo ủy quyền, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Bùi Ngọc TT đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 171; Điều 177, Điều 179; Điều 196, Điều 208, Điều 220; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng ông Bình đều vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt theo qui định. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
. Về yêu cầu của đương sự:
Về hình thức và nội dung hợp đồng tín dụng:
Xét, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 20/6/2019 giữa Ngân hàng và bà Bùi Ngọc TT; Lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: việc ký kết hợp đồng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức hợp đồng và nội dung thỏa thuận phù hợp và không trái quy định pháp luật, có hiệu lực kể từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại các Điều 385; Điều 398; Điều 405; Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng.
Về thực hiện hợp đồng và nghĩa vụ thanh toán:
Hội đồng xét xử xét thấy: quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bà TT vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Mục 13 và Mục 24 bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân ngày 20/6/2019 nên ngân hàng yêu cầu bà TT thanh toán nợ gốc và lãi tính đến ngày 17/5/2023 là 120.118.550 đồng (trong đó: nợ gốc: 52.284,490 đồng; Lãi quá hạn: 67.834.060 đồng) là có căn cứ, phù hợp quy định tại các Điều 351; Điều 357; Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Mặt khác, trong quá suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà TT mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa trình bày ý kiến, cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh đã thanh toán nợ cho Ngân hàng. Việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà TT thanh toán số nợ trên là có cơ sở, đúng pháp luật, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91; Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Do vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
. Về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ
Căn cứ khoản 1 Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy: yêu cầu của nguyên đơn về khoản tiền lãi chậm trả phát sinh kể từ ngày 18/5/2023 theo mức lãi suất do hai bên thỏa thuận tại hợp đồng là phù hợp nên chấp nhận.
. Về thời hạn thanh toán: Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ trên nên nguyên đơn yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà Bùi Ngọc TT có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng TMCP SS số tiền là 120.118.550 đồng (trong đó: nợ gốc: 52.284,490 đồng; Lãi quá hạn: 67.834.060 đồng) và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất do hai bên thỏa thuận tại hợp đồng kể từ ngày 18/5/2023 cho đến khi thanh toán xong số nợ. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Bùi Ngọc TT phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.005.928 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí 2.630.828 đồng cho Ngân hàng TMCP SS.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 179; Điều 227; Điều 228; các Điều 264, 266, 267, 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 351; Điều 357; Điều 385; Điều 398; Điều 405; Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐT ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Khoản 1 Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áo dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần SS.
Bà Bùi Ngọc TT có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần SS số tiền còn nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 20/6/2019, tính đến ngày 17/5/2023 là 120.118.550 đồng (trong đó: nợ gốc: 52.284,490 đồng; Lãi quá hạn: 67.834.060 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Bùi Ngọc TT còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 20/6/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ trên.
Thời hạn và phương thức thanh toán: Một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Bùi Ngọc TT phải nộp số tiền án phí là 6.005.928 đồng
Hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí 2.630.828 đồng cho Ngân hàng Thương mại cổ phần SS theo biên lai thu số 0036788 ngày 05/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo:
Ngân hàng Thương mại cổ phần SS, bà Bùi Ngọc TT được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND quận Tân Phú; - Chi cục THADS quận Tân Phú; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hương Giang |