- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Phượng"
- Tòa quyết gì? Luật phí và lệ phí năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ H Bản án số: 231/2019/ST-HNGĐ Ngày 09 tháng 4 năm 2019 Về việc: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T – THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Quốc Thái
2. Bà Trương Hồng Phượng
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Trung Tiến, Thư ký Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thịnh – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân sơ thẩm thụ lý số 1181/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2019/QĐ-HPT ngày 02 tháng 4 năm 2014; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1983.
Địa chỉ: 0.19 Chung cư N, đường L, phường P, quận T, Thành phố H.
Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Trần Văn D, sinh năm 1973.
Địa chỉ: 0.19 Chung cư N, đường L, phường P, quận T, Thành phố H.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà P và ông Trần Văn D có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, Huyện T, tỉnh B theo Giấy chứng nhận kết hôn số 220, quyển số 02/2004 ngày 10/6/2004.
Cuộc sống vợ chồng từ năm 2011 đã không còn hạnh phúc, thường xuyên bất hòa về quan điểm trong cuộc sống, ông D thường xuyên đánh đề và cá độ đá banh, hai bên thường xuyên tranh cãi, gây gỗ với nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung. Mặc dù hai bên đã tìm nhiều biện pháp nhưng vẫn không hàn gắn được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể giải quyết được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Bà P yêu cầu ly hôn ông D để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Văn Hoàng, sinh ngày 08/10/2004 và Trần Đình Nhân, sinh ngày 27/3/2016. Bà P yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng hai con, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi hai con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà P xác nhận không có.
Tại phiên hòa giải ngày 22/01/2019, Bị đơn ông Trần Văn D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà P có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, Huyện T, tỉnh B theo Giấy chứng nhận kết hôn số 220, quyển số 02/2004 ngày 10/6/2004.
Ông thừa nhận có những mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình, tuy nhiên theo ông những mâu thuẫn này là không nghiêm trọng và ông không muốn ly hôn để hàn gắn tình cảm gia đình và chăm sóc con chung.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Văn H, sinh ngày 08/10/2004 và Trần Đình N, sinh ngày 27/3/2016. Nếu ly hôn, ông cũng muốn là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà P cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông D xác nhận không có.
Tuy nhiên bị đơn ông Trần Văn D đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ đến tòa để ghi lời khai, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày ngày 12/3/2019 nhưng ông D vẫn không có mặt tại Tòa án, do đó tòa án không ghi lời khai và không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
Bị đơn ông Trần Văn D đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không vì sự kiện bất khả kháng; Căn cứ khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:
* Về tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án về thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, xác định tư cách pháp lý, và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng cũng như thời hạn gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ Viện kiểm sát nghiên cứu.
- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
- Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không vì sự kiện bất khả kháng và tòa án đã tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
* Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P được ly hôn ông Trần Văn D.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Văn H, sinh ngày 08/10/2004 và Trần Đình N, sinh ngày 27/3/2016 cho Bà P trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung: Bà P xác nhận không có, nên Viện kiểm sát không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Bà P khai không có nên Viện kiểm sát không xem xét giải quyết.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét, Giấy chứng nhận kết hôn số 220, quyển số 02/2004 do Ủy ban nhân dân xã P, Huyện T, tỉnh B cấp ngày 10/6/2004 cho ông Trần Văn D và bà Nguyễn Thị P thể hiện hôn nhân giữa Bà P và ông D là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.
Ông Trần Văn D - sinh năm 1973 có đăng ký thường trú tại 0.19 Chung cư N, đường L, phường P, quận T. Hiện nay ông D đang thực tế cư trú tại địa chỉ trên. Bà P khởi kiện ông D hiện đang cư ngụ tại quận T, Thành phố H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Toà án nhân dân quận T theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa; Bị đơn ông Trần Văn D đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không vì sự kiện bất khả kháng; Căn cứ khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về yêu cầu của đương sự:
3.1. Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị P và ông Trần Văn D đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phan Rí Cửa, Huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận vào ngày 10/6/2004. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà P xác định nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng là do bất đồng quan điểm, trong việc chăm sóc, nuôi dạy con chung nên vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cãi vả khiến đời sống hôn nhân căng thẳng, mệt mỏi, mâu thuẫn kéo dài không thể hàn gắn được.
Kết quả xác minh mâu thuẫn tại địa phương ngày 20/3/2019 xác định: Quá trình chung sống, vợ chồng ông D, Bà P có sự cãi vả và có xảy ra xô xát có báo chính quyền địa phương can thiệp. Hội đồng xét xử xét thấy, thực tế mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân ông D, Bà P có xảy ra mâu thuẫn đã trầm trọng và kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, không có đời sống chung vợ chồng. Bà P cương quyết xin ly hôn với ông D, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà P, ông D mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, không thể hiện được tình nghĩa vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau;… vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau,…’ Tòa án đã triệu tập ông D để tham gia phiên tòa nhưng ông D không có mặt, thể hiện ông D không quan tâm đến kết quả xin ly hôn; quá trình giải quyết vụ án ông D có lời khai không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra biện pháp và cũng không thể hiện ý chí mong muốn cải thiện tình cảm vợ chồng để hàn gắn xây dựng hạnh phúc gia đình; nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Bà P.
3.2. Về quan hệ con chung: Ông D, Bà P có 02 con chung tên Trần Văn H, sinh ngày 08/10/2004 và Trần Đình N, sinh ngày 27/3/2016. Bà P yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng hai con vì hiện nay trẻ H và N còn nhỏ, cần được sự chăm sóc, giáo dục của người mẹ; Hơn nữa, ông D không đến tòa và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về vấn đề nuôi con chung. Xét, trẻ H và N đang ở cùng mẹ nên cần giao hai con chung cho Bà P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 81, khoản 2 điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao trẻ Trần Văn H, sinh ngày 08/10/2004 và Trần Đình N, sinh ngày 27/3/2016 cho bà Nguyễn Thị P trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi hai trẻ lần lượt đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông D do Bà P không yêu cầu.
3.3. Về tài sản chung: Bà P xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
3.4. Về nợ chung: Bà P khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P phải nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền án phí hôn nhân gia đình.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 118 và 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Luật phí và lệ phí năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn bà Nguyễn Thị P.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P ly hôn ông Trần Văn D.
Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị P và ông Trần Văn D theo Giấy chứng nhận kết hôn số 220, quyển số 02/2004 do Ủy ban nhân dân xã P, Huyện T, tỉnh B cấp ngày 10/6/2004 chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về quan hệ con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị P có trách nhiệm nuôi dưỡng 02 con chung tên Trần Văn H, sinh ngày 08/10/2004 và Trần Đình N, sinh ngày 27/3/2016 cho đến khi trẻ Văn H, Đình N lần lượt đủ 18 tuổi và được quyền yêu cầu ông Trần Văn D cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của Bà P. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Trần Văn D do Bà P không yêu cầu.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên tự thoả thuận. Nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì trên cơ sở lợi ích của con, người không trực tiếp nuôi con hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không dược cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà P xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Bà P khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, Bà P đã nộp theo theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0009693 ngày 22/9/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận T. Bà P đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P, bị đơn ông Trần Văn D không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - TAND TP.H - VKSND quận T; - UBND xã P, Huyện T, tỉnh B (để ghi vào sổ hộ tịch); - Chi cục THADS quận T; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Hòa |