vanban.org

Bản án 231/2017/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 22/12/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/12/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Khúc Văn Đ; chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện P, sửa bản án sơ thẩm.

Áp dụng: Điểm a, c, khoản 2, Điều 202; điểm b, p, khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 47 và Điều 33 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Khúc Văn Đ 10 (mười) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Khúc Văn Đ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Khúc Văn Đ; chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện P, sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 231/2017/HS-PT
Ngày: 22-12-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Minh Triều

Các Thẩm phán: Ông Lê Trọng Hân

Ông Phan Văn Thuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Nguyễn Nghĩa Biên – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 180/2017/TLPT-HS ngày 25 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo Khúc Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Kiên Giang đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 109/2017/HS-ST ngày 20/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện P.

- Bị cáo có kháng cáo, kháng nghị:

Khúc Văn Đ, sinh năm 1983, tại: Thái Bình; nơi ĐKTT và chỗ ở: ấp T, xã D, huyện P, Kiên Giang; nghề nghiệp: đầu bếp; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Khúc Mạnh Hà (chết) và bà Nguyễn Thị Tuất; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2017 đến ngày 06/5/2017 có lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 26/4/2017, Phạm Thị M điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 61V2-1568 chở theo Trần Văn C chạy từ hướng xã Gành Dầu về thị trấn A, huyện P, tỉnh Kiên Giang. Đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, xe chạy đến đoạn đường thuộc ấp Lê Bát, xã Cửa Cạn thì trời mưa, M dừng xe sát mép lề bên phải đường theo hướng xe chạy, đồng thời M và C xuống xe để lấy áo mưa trong cốp xe mặc. Trong lúc đang lấy áo mưa, thì lúc này Khúc Văn Đ không có giấy phép lái xe nhưng điều khiển xe ô tô của Đ, biển kiểm soát 61K-6407 chạy cùng chiều đụng vào M và C, làm cho M tử vong tại chỗ, C bị thương nhẹ. Sau đó, Đ điều khiển xe chạy về nhà ở ấp T, xã D nằm ngủ.

Tại kết luận giám định pháp y tử thi số: 237/KL-KTHS, ngày 18/5/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Bà Phạm Thị M tử vong do chấn thương sọ não nặng.

Tại Bản án sơ thẩm số: 109/2017/HSST ngày 20/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Kiên Giang:

Tuyên bố: Bị cáo Khúc Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1 và 2 Điều 46; Điều 47; Điều 33 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Khúc Văn Đ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bắt bị cáo vào chấp hành hình phạt; nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2017 đến ngày 06/5/2017.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/10/2017, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và Viện Kiểm sát nhân dân huyện P kháng nghị tăng hình phạt đối với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, vị đại diện Viện Kiểm sát xác định đơn kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện P đối với Bản án sơ thẩm số 109/2017/HSST ngày 20/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện P, là trong hạn luật định nên được xem xét giải quyết; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3, Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện P sửa bản án sơ thẩm, tăng mức hình phạt đối với bị cáo từ 09 tháng tù lên 12 tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo Khúc Văn Đ vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, Viện Kiểm sát nhân dân huyện P vẫn giữ nguyên kháng nghị. Đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị trong thời hạn luật định nên được cấp phúc thẩm xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 26/4/2017, sau khi uống rượu tại ấp Lê Bát, xã Cửa Cạn, huyện P, tỉnh Kiên Giang thì bị cáo Khúc Văn Đ điều khiển xe ô tô hiệu NISSAN-1.8GL, biển kiểm soát 61K-6407, do bị cáo là chủ sở hữu nhưng xe chưa làm thủ tục sang tên, đi trên đoạn đường ấp Lê Bát, bản thân bị cáo chưa có giấy phép lái xe ô tô theo quy định. Do trời mưa, tầm nhìn kém nên xe của bị cáo va chạm với Phạm Thị M (là người điểu khiển xe mô tô) và Trần Văn C (người ngồi sau xe mô tô), lúc này đang dừng xe sát mép lề bên phải theo hướng xe Đ chạy để lấy áo mưa trong cốp xe mặc, dẫn đến M tử vong tại chỗ, C bị thương nhẹ. Sau đó, Đ điều khiển xe ô tô chạy về nhà ở ấp T, xã D, huyện P nằm ngủ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu cấu cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại điểm a và c khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Mặc dù chưa có bằng lái xe theo quy định nhưng bị cáo vẫn điều khiển xe ô tô hiệu NISSAN-1.8GL, biển kiểm soát 61K-6407 đi trên đường giao thông trong điều kiện thời tiết mưa, tầm nhìn hạn chế, dẫn đến va chạm với bị hại, hậu quả làm bị hại chết, sau đó bỏ trốn không đưa nạn nhân đi cấp cứu. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Khúc Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” với hai tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm a và c, khoản 2, Điều 202 Bộ luật Hình sự (không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định và gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm), là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Bản thân bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường toàn bộ chi phí mai táng cho gia đình người bị hại; gia đình người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; do đó,bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, p khoản 1 và 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Xét kháng cáo, kháng nghị:

Qua đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và xem xét áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp. Mặc dù trước khi xét xử phúc thẩm, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thêm cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng để bù đắp tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại và nuôi các con của bị hại đến khi đủ 18 tuổi cho thấy ý thức trách nhiệm của bị cáo với gia đình bị hại, chồng của bị hại cũng làm đơn xin giảm hình phạt thấp nhất cho bị cáo. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm xử hình phạt 09 (chín) tháng tù đối với bị cáo là nhẹ, chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và chưa đủ sức giáo dục, răn đe đối với bị cáo. Vì vậy, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo và chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện P, sửa bản án sơ thẩm đã tuyên tăng mức hình phạt của bị cáo thêm 01 tháng tù.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Tòa án cấp phúc thẩm sửa quyết định về hình sự của bản án sơ thẩm cho nên người kháng cáo là bị cáo Khúc Văn Đ phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Khúc Văn Đ; chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện P, sửa bản án sơ thẩm.

Áp dụng: Điểm a, c, khoản 2, Điều 202; điểm b, p, khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 47 và Điều 33 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Khúc Văn Đ 10 (mười) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2017 đến ngày 06/5/2017.

Về án phí: Bị cáo Khúc Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án số: 109/2017/HSST ngày 20/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Kiên Giang có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ