vanban.org

Bản án 230/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

hình sự; Căn cứ điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình

sự đối với bị cáo Nguyễn Dương H. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Dương H 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Dương Hoàng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? hình sự; Căn cứ điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA
-----------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 230/2025/HS-ST
Ngày 31-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nam Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Trần Khoa

Bà Lê Ngọc Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thư Thư - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 -

Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễn Minh Thiệt - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa xét

xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 191/2025/TLST-HS ngày 21 tháng

11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 191/2025/QĐXXST-HS

ngày 03 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 101/2025/QĐST-HS

ngày 17/12/2025, đối với:

*Bị cáo: Nguyễn Dương H - sinh ngày 29/4/2007, tại Đăk Lăk; Nghề

nghiệp: Không; Nơi thường trú: 58 L, xã Đ, tỉnh Đăk Lăk; Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn:

9/12; Họ và tên cha: Nguyễn H sinh năm 1975; Họ và tên mẹ: Đặng Thị M, sinh

năm: 1979; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm

giữ, tạm giam từ ngày 30/7/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực Nha

Trang.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

1/ Bà Hà Gia K, sinh năm 2001

Trú tại: 400/1 T, phường MT, tp. Hồ Chí Minh.

Có đơn xin xét xử vắng mặt

2/ Bà Hà Trúc U, sinh năm 2000

Địa chỉ: 22A R, , New Zealand

Vắng mặt

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Ngô Minh U, sinh năm 1977

Địa chỉ: 01A PK, phường Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Vắng mặt

2/ Ông Phan Ng, sinh năm 1986

Địa chỉ thường trú: 21 Đ, phường NT, tỉnh Khánh Hòa

Chỗ ở: ĐL, phường NT, tỉnh Khánh Hòa

Vắng mặt

3/ Bà Trương TH, sinh năm 1975

Địa chỉ: phường NT, tỉnh Khánh Hòa

Vắng mặt

*Người làm chứng: Ông Lê H A sinh năm 1996

Địa chỉ: phường NT, tỉnh Khánh Hòa

Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 29/7/2025, Nguyễn Dương H đến khu vực bãi

biển đối diện Quảng trường 2/4 đường Trần Phú, phường Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tìm người để tài sản sơ hở thì trộm cắp. Phát hiện chị Hà Gia K và Hà Trúc U có để 01 túi vải màu xanh trên bãi cát rồi xuống tắm biển, H lén lút đi đến lục túi vải lấy được 01 điện thoại di động hiệu Iphone 16 Promax, màu xám titan, dung lượng 256gb; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu đen, dung lượng 128gb và số tiền 740.000đ rồi bỏ đi thì bị lực lượng tuần tra Công an phường Nha Trang phát hiện bắt quả tang.

Làm việc tại Cơ quan Công an, Nguyễn Dương H khai nhận nội dung trên.

Ngoài ra, H còn khai nhận trước đó khoảng 15 giờ cùng ngày (29/7/2025), H cùng Phan Ng và Trương Th đến khu vực bãi biển đối diện Quảng trường 2/4 đường Trần Phú, phường Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa lấy trộm được 01 điện thoại Iphone màu đen, 01 điện thoại Oppo màu xanh của 02 người phụ nữ (chưa xác định được lai lịch). Sau đó, Ng và Th mang điện thoại đến tiệm điện thoại Hải My; địa chỉ: 01 Phùng Khắc Khoan, phường Nam Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa bán cho Ngô Minh U với giá 4.200.000đ. Số tiền bán được, Ng chia cho Th 1.700.000đ và chia cho H 500.000đ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 2119/KL-HĐĐGTS ngày 26/8/2025 của

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 16 Promax, màu xám titan, dung lượng 256gb có giá trị 24.498.666đ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu đen, dung lượng 128gb có giá trị 6.328.334đ. Tổng giá trị tài sản là 30.827.000đ.

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Nguyễn Dương H đã thành khẩn khai báo,

ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu.

Ngày 07/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa đã giao

trả tài sản 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu đen, dung lượng 128gb và số

tiền 740.000đ cho người bị hại bà Hà Trúc U và 01 điện thoại di động hiệu Iphone

16 Promax, màu xám titan, dung lượng 256gb cho người bị hại Hà Gia K.

Đồ vật Th giữ:

-Th giữ trên người Phan Ng 01 điện thoại di động hiệu Realme màu trắng;

2.000.000đ;

-Th giữ trên người Trương Th 01 điện thoại hiệu di động hiệu Nokia 105;

1.500.000đ;

-Th giữ trên người Nguyễn Dương H 01 điện thoại hiệu di động hiệu Iphone

15 Promax; 500.000đ;

-Th giữ của Ngô Minh U 01 điện thoại hiệu di động hiệu Oppo màu xanh;

80 điện thoại di động các loại gồm: 25 điện thoại hiệu Oppo; 02 điện thoại hiệu

Vinfat; 10 điện thoại hiệu Vivo; 12 điện thoại hiệu Iphone; 20 điện thoại hiệu

Samsung; 02 điện thoại hiệu Honor; 05 điện thoại hiệu Realme; 01 điện thoại hiệu

LG; 02 điện thoại hiệu Sony; 01 điện thoại hiệu Nokia.

Bản cáo trạng số 43/CT-VKSKV1 ngày 19/11/2025, VKSND khu vực 1 -

Khánh Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Dương H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1

Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Đối với hành vi trộm cắp tài sản trước đó khoảng 15 giờ cùng ngày

(29/7/2025), H cùng Phan Ng và Trương Th đến khu vực bãi biển đối diện Quảng

trường 2/4 đường Trần Phú, phường Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa lấy trộm được 01

điện thoại Iphone màu đen, 01 điện thoại Oppo màu xanh của 02 người phụ nữ

(chưa xác định được lai lịch). Sau đó, Ng và Th mang điện thoại đến tiệm điện

thoại Hải My có địa chỉ 01 Phùng Khắc Khoan, phường Nam Nha Trang, tỉnh

Khánh Hòa bán cho Ngô Minh U hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh

Khánh Hòa đang xác minh người bị hại của các vụ trộm cắp tài sản này, khi có căn

cứ sẽ tiếp tục xử lý theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này, Phan Ng và Trương Th không bàn bạc với Nguyễn Dương

H để cùng thực hiện hành vi trộm cắp nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm

hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa giữ

nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản

1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Dương H; Xử phạt bị cáo H từ 09

tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự và án

phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật. Về vật chứng

của vụ án: + Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Khánh Hòa 01

điện thoại hiệu di động hiệu Oppo màu xanh; 80 điện thoại di động các loại gồm:

25 điện thoại hiệu Oppo; 02 điện thoại hiệu Vinfat; 10 điện thoại hiệu Vivo; 12

điện thoại hiệu Iphone; 20 điện thoại hiệu Samsung; 02 điện thoại hiệu Honor; 05

điện thoại hiệu Realme; 01 điện thoại hiệu LG; 02 điện thoại hiệu Sony; 01 điện

thoại hiệu Nokia; 01 điện thoại di động hiệu Realme màu trắng; 01 điện thoại hiệu

di động hiệu Nokia 105.

+ Tịch Th sung công quỹ nhà nước số tiền 2.000.000đ Th giữ trên người

Phan Ng; 1.500.000đ Th giữ trên người Trương Th và 500.000đ do bị cáo H phạm tội mà có.

+ Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax là tài

sản của bị cáo.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày

16/12/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Khánh Hòa với Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa).

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Dương H phải nộp án phí theo quy định của pháp

luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những

người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị hại có đơn xin xét xử vắng

mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, hồ sơ thể hiện rõ lời khai của những người này nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người

có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 29/7/2025, tại khu vực đối diện Quảng trường 2/4, đường Trần Phú, phường Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, Nguyễn Dương H đã lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 16 Promax, màu xám titan, dung lượng 256gb có giá trị 24.498.666 đồng của bà Hà Gia K; 01 điện thoại hiệu Iphone 13 màu đen, dung lượng 128gb có giá trị 6.328.334 đồng và số tiền 740.000 đồng của bà Hà Trúc U. Tổng giá trị tài sản là 31.567.000 đồng.

Từ những nhận định trên HĐXX xét thấy: Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố

cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa đã truy tố.

[4] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Xét tính chất, mức độ

nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa cùng với việc đánh giá toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo tính

nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung. Bị cáo là

người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, nên giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình

phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, an Ng cải tạo sớm hòa nhập

cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng

như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo

sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i,

s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu nên

không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng:

Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Khánh Hòa số vật chứng

để giải quyết theo quy định của pháp luật gồm:

+ 01 điện thoại hiệu di động hiệu Oppo màu xanh; 80 điện thoại di động các

loại gồm: 25 điện thoại hiệu Oppo; 02 điện thoại hiệu Vinfat; 10 điện thoại hiệu

Vivo; 12 điện thoại hiệu Iphone; 20 điện thoại hiệu Samsung; 02 điện thoại hiệu

Honor; 05 điện thoại hiệu Realme; 01 điện thoại hiệu LG; 02 điện thoại hiệu Sony;

01 điện thoại hiệu Nokia Th giữa của Ngô Minh U; 01 điện thoại di động hiệu

Realme màu trắng Th giữ trên người Phan Ng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia

105 Th giữ trên người Trương Th.

+ Tịch Th sung công quỹ nhà nước số tiền 2.000.000đ Th giữ trên người

Phan Ng; 1.500.000đ Th giữ trên người Trương Th và 500.000đ Th giữ trên người

H do phạm tội mà có.

+ Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax là tài

sản của bị cáo.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày

16/12/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Khánh Hòa với Thi

hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa).

[9] Về án phí: Bị cáo H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí

HSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 293; Điểm a khoản 1 Điều 106 của Bộ luật tố tụng

hình sự; Căn cứ điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình

sự đối với bị cáo Nguyễn Dương H.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Dương H 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài

sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 30/7/2025.

2. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu nên không xem xét

giải quyết

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 1 Điều

106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Khánh Hòa số vật chứng để giải quyết theo quy định của pháp luật gồm:

+ 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh; 80 điện thoại di động các loại

gồm: 25 điện thoại hiệu Oppo; 02 điện thoại hiệu Vinfat; 10 điện thoại hiệu Vivo; 12 điện thoại hiệu Iphone; 20 điện thoại hiệu Samsung; 02 điện thoại hiệu Honor; 05 điện thoại hiệu Realme; 01 điện thoại hiệu LG; 02 điện thoại hiệu Sony; 01 điện thoại hiệu Nokia Th giữa của Ngô Minh U; 01 điện thoại di động hiệu Realme màu trắng Th giữ trên người Phan Ng; 01 điện thoại hiệu di động hiệu Nokia 105 Th giữ trên người Trương Th.

+ Tịch Th sung công quỹ nhà nước số tiền 2.000.000đ Th giữ trên người

Phan Ng; 1.500.000đ Th giữ trên người Trương Th và 500.000đ Th giữ trên người Nguyễn Dương H do phạm tội mà có.

+ Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax là tài

sản của bị cáo.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày

16/12/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Khánh Hòa với Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa).

4.Về án phí: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức Th, miễn, giảm, Th, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Dương H nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự

sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt được

quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ