- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 230/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10/7/2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Đào
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh
Bà Thiều Thị Phi Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 867/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 266/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 19/6/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Thái Thị Ngọc D, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Số 199/8/3, khu phố 1, phường An Hòa, thành phố P, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Ông Đoàn Nhân P, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Số 199/8/3, khu phố 1, phường An Hòa, thành phố P, tỉnh Đồng Nai.
(Bà D có đơn xin vắng mặt, ông P vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai bà Thái Thị Ngọc D trình bày:
Bà và ông Đoàn Nhân P tự tìm hiểu nhau, tự nguyện kết hôn với nhau; có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã An Hòa (nay là phường An Hòa), thành phố P, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 09/8/2018. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, yêu thương chăm sóc lẫn nhau, gia đình hòa thuận nhưng từ đầu năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Nguyên nhân, mâu thuẫn phát sinh chủ yếu do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Dù hai bên đã cố gắng hòa giải đoàn tụ nhưng vẫn không thể đoàn tụ để xây dựng gia đình hạnh phúc. Từ cuối năm 2023 bà và ông P tuy chung sống cùng một nhà nhưng không còn quan tâm cuộc sống của nhau, mạnh ai người đó sống. Nay bà không còn tình cảm với ông P nên đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P giải quyết cho bà được ly hôn với ông P.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Đoàn Minh H, sinh ngày 13/6/2018. Ly hôn, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông P phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Đoàn Nhân P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa để làm việc, hòa giải và xét xử nên không có lời trình bày.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Đồng Nai:
Về việc tuân thủ quy định của thẩm phán, thư ký, hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, việc chấp hành pháp luật của bị đơn là không đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thái Thị Ngọc D đối với bị đơn ông Đoàn Nhân P về việc ly hôn, về quan hệ hôn nhân: Bà D được ly hôn với ông P, về con chung: Giao con chung là cháu Đoàn Minh H, sinh ngày 13/6/2018 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung, nợ chung: Bà D không yêu cầu giải quyết, ông P vắng mặt không có lời khai nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự:
Nguyên đơn bà Thái Thị Ngọc D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đoàn Nhân P và đề nghị giao con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, căn cứ Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định bà Thái Thị Ngọc D là nguyên đơn, ông Đoàn Nhân P là bị đơn trong vụ án.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Đoàn Nhân P hiện nay đang cư trú tại thành phố P, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Đồng Nai.
Về thủ tục tố tụng khác: Ngày 30/5/2024, bà D có đơn xin vắng mặt. ông Đoàn Nhân P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà D và ông P.
Nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Thị Ngọc D và ông Đoàn Nhân P tự nguyện kết hôn, có làm thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã An Hòa (nay là phường An Hòa), thành phố P, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 09/8/2018 nên áp dụng Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, bà D xác định không còn tình cảm với ông P, do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, to tiếng với nhau. Theo biên bản xác minh mâu thuẫn tại địa phương ngày 15/5/2024 nơi bà D và ông P đã từng sinh sống xác định trong cuộc sống hôn nhân giữa các đương sự có xảy ra mâu thuẫn hay không địa phương không nắm rõ do các đương sự không trình báo và không có đơn đề nghị địa phương hòa giải mâu thuẫn vợ chồng.
Đối với ông Đoàn Nhân P, theo kết quả xác minh tại Công an phường An Hòa ngày 15/4/2024, xác định hiện nay ông P không đăng ký hộ khẩu thường trú, không đăng ký tạm trú nhưng có sinh sống tại địa chỉ số 199/8/3, tổ 9, khu phố 1, phường An Hòa, thành phố P, tỉnh Đồng Nai nên đã được Tòa án tiến hành niêm yết các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, ông P vẫn vắng mặt tại các buổi làm việc, hòa giải và phiên tòa là không thực hiện đúng nghĩa vụ của bị đơn, từ đó cho thấy ông P có ý bỏ mặc việc Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân giữa hai người. Như vậy, cuộc sống hôn nhân của bà D và ông P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên cho thấy, yêu cầu ly hôn của bà D là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Đoàn Minh H, sinh ngày 13/6/2018. Ly hôn, bà D đề nghị được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông P phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét đề nghị này của bà D là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ con chung vẫn đang sống cùng bà D, cháu Hiếu lại còn quá nhỏ nên việc giao con chung cho bà D tiếp tục nuôi dưỡng là rất cần thiết. Tạm thời, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không xem xét.
Về nợ chung: Không xem xét.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Đồng Nai phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bà Thái Thị Ngọc D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 68, khoản 4 Điều 147, Điều 220, Điều 228, 266 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 58, 71, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thái Thị Ngọc D đối với bị đơn ông Đoàn Nhân P về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Thị Ngọc D được ly hôn với ông Đoàn Nhân P.
Về con chung: Giao con chung là cháu Đoàn Minh H, sinh ngày 13/6/2018 cho bà Thái Thị Ngọc D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời, ông Đoàn Nhân P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông P được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản ông Phong thực hiện quyền này. Trong trường hợp cần thiết một trong các bên có quyền xin thay đổi quyền trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
Về án phí: Bà Thái Thị Ngọc D phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà D đã nộp theo biên lai thu số 0003060 ngày 27/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P. Bà D đã nộp xong án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND thành phố P; - Chi cục THADS TP.P - UBND nơi ĐKKH; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Đào |