- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn B và đồng phạm phạm tội Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn B, Lê Minh L và Nguyễn Văn H phạm tội Gây rối trật tự công cộng.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 230/2022/HS-ST Ngày 27-7-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân
2. Ông Tô Văn Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Phƣơng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng An, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 174/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 315/2022/QĐXXST-HS ngày 05/7/2022 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Văn B, sinh năm 1996 tại tỉnh Cà Mau; thƣờng trú: Ấp 6, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 03/12; con ông Nguyễn Văn M, đã chết và bà Tiêu Thị H, sinh năm 1958; có 05 anh chị ruột: lớn nhất sinh năm không rõ, nhỏ nhất sinh năm 1994; vợ Đinh Thị Mỹ T, sinh năm 1996; có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; đầu thú ngày 04/9/2020; trả tự do ngày 04/9/2020; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/11/2020, hiện đang chấp hành tại Trại giam Tống Lê Chân. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
2/ Lê Minh L, sinh ngày 21/5/2001 tại tỉnh Ninh Thuận; thƣờng trú: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; tạm trú: Số 126A, khu phố B, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lê Minh H, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1974; bị cáo có 01 anh sinh năm 1996; bị cáo chƣa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 09/9/2021, có mặt tại phiên tòa.
3/ Nguyễn Văn H, sinh ngày 12/7/2002 tại tỉnh Ninh Thuận; thƣờng trú: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; tạm trú: Số 126A, khu phố B, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn S, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị B (đã chết); bị cáo có 07 anh chị, lớn nhất sinh năm 1972, nhỏ nhất sinh năm 1992; bị cáo chƣa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 09/9/2021, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Ông Nguyễn S, sinh năm 1950; thƣờng trú: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Vắng mặt.
2/ Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1974; thƣờng trú: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Vắng mặt.
3/ Ông Bùi Văn T, sinh năm 1997; thƣờng trú: Số 969/A, khu phố B, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Chị Lâm Thủy N. Vắng mặt.
2. Anh Dƣơng Văn K. Vắng mặt.
3. Anh Đặng Hữu N. Vắng mặt.
4. Chị Định Thị Mỹ T. Vắng mặt.
5. Anh Bùi Văn K. Vắng mặt.
6. Anh Nguyễn Văn K. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 27/8/2020, Nguyễn Văn H đi từ Công ty ASTI thuộc khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng ra cổng công ty, nhìn thấy Lâm Thúy N đang đứng cùng nhóm 05 thanh niên lạ mặt. Lúc này, có 01 thanh niên trong nhóm dùng đá ném trúng vào tay H rồi đuổi đánh nên H bỏ chạy về phòng trọ thuộc khu phố B, phƣờng B và kể sự việc cho Lê Minh L nghe. Đồng thời H rủ Lê Minh L đi tìm nhóm của Lâm Thúy N để nói chuyện.
Khi đến quán bia T ở số 214 đƣờng H, khu phố Đ, phƣờng T, thấy Lâm Thúy N đang ngồi nhậu cùng Nguyễn Văn B, Võ Ngọc Đ và một thanh niên mặc áo đỏ, L đi vào nói chuyện còn H dừng xe mô tô biển số 61D1-96118 ở ngoài chờ, trong lúc L nói chuyện với Lâm Thúy N thì hai bên xảy ra mâu thuẫn. Thấy vậy, Nguyễn Văn H đi vào dùng tay đánh vào đầu Lâm Thúy N, Lê Minh L cầm nón bảo hiểm đánh B. Thấy vậy, B, Đ, thanh niên mặc áo đỏ dùng ghế nhựa đánh lại L và H. Hai bên xông vào đánh nhau ở giữa đƣờng đƣợc vài phút thì B chạy đến chỗ nƣớng thức ăn của quán lấy 01 cây kéo kim loại màu đen dài khoảng 20cm xông vào đánh. Thấy B có hung khí nên L và H bỏ chạy. B đuổi theo dùng kéo đâm trúng vào cánh tay phải của Lê Minh L gây thƣơng tích, H bỏ chạy thoát và không có thƣơng tích gì. Nguyễn Văn B cầm kéo, Võ Ngọc Đ cầm xô đá bằng kim loại và một thanh niên mặc áo đỏ truy đuổi L vào quán cà phê H đánh tiếp. L bị chảy máu nhiều ở tay nên Nguyễn Văn B, Võ Ngọc Đ và ngƣời thanh niên mặc áo đỏ không đánh nữa. Sau đó tất cả rời khỏi hiện trƣờng, riêng L đƣợc ngƣời dân đƣa đi cấp tại Bệnh viện Dĩ An.
* Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 0826/TgT/2020 của Trung tâm pháp y Sở y tế Đồng Nai ngày 24/9/2020 kết luận thƣơng tích của Lê Minh L là 52%.
Vật chứng: 02 ghế nhựa màu đỏ; 01 nón bảo hiểm màu trắng bị bể; 01 file video hình ảnh camera an ninh của quán cà phê H; 01 file video do ngƣời dân cung cấp.
Đối với Nguyễn Văn B đã bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thƣơng tích tại bản án số 371/2021/HSST ngày 10/12/2021.
Đối với ngƣời thanh niên mặc áo đỏ hiện chƣa rõ nhân thân, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục xác minh xử lý sau.
Đối với Võ Ngọc Đ hiện đã bỏ trốn, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã Quyết định truy nã, Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can, Quyết định tách vụ án, khi nào bắt đƣợc sẽ phục hồi điều tra, xử lý theo quy định.
Cáo trạng số 200/CT–VKS ngày 09 tháng 6 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Văn B, Lê Minh L về tội Gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Văn H về tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lê Minh L từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 05 tháng đến 08 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đối với 02 ghế nhựa bị gãy màu đỏ, 01 nón bảo hiểm màu trắng bị bể đã đƣợc giải quyết trong bản án hình sự số 371/2021/HSST ngày 10/12/2021.
Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị cáo Nguyễn Văn B giữ nguyên các lời khai tại cơ quan điều tra và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận các bị cáo Nguyễn Văn H và Lê Minh L không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, tại phần nói lời sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Nguyễn Văn B có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại Điều 290 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Căn cứ vào lời khai của các bị cáo, ngƣời làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có cơ sở xác định: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 27/8/2020, trƣớc quán bia T, tổ 3, khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, Lê Minh L dùng nón bảo hiểm, Nguyễn Văn B dùng cây kéo, Nguyễn Văn H dùng tay tham gia đánh nhau, đập phá gây rối trật tự công cộng ảnh hƣởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Nhƣ vậy hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn B, Lê Minh L đã đủ yếu tố cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 200/CT–VKS ngày 09 tháng 6 năm 2022 của Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đối với các bị cáo là có căn cứ.
Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm do các bị cáo Nguyễn Văn B, Lê Minh L thực hiện là nghiêm trọng; tội phạm do bị cáo Nguyễn Văn H thực hiện là ít nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của ngƣời khác, gây ảnh hƣởng lớn đến hoạt động bình thƣờng của mọi ngƣời ở nơi công cộng. Do vậy, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện. Hội đồng xét xử có xét đến vai trò của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình tố tụng, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Nguyễn Văn B đầu thú; bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Trong vụ án có đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn, không có sự phân công vai trò cụ thể nên không coi là tội phạm có tổ chức. Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện với vai trò là ngƣời thực hành.
Về nhân thân: Các bị cáo đều là ngƣời chƣa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Nguyễn Văn B đang chấp hành hình phạt 05 năm 06 tháng về tội Cố ý gây thƣơng tích theo bản án số 371/2021/HSST ngày 10/12/2021.
Về xử lý vật chứng: Đối với 02 ghế nhựa màu đỏ bị gãy, 01 nón bảo hiểm màu trắng bị bể đã đƣợc giải quyết trong bản án số 371/2021/HSST ngày 10/12/2021. Đối với xe mô tô biển số 61D1-96118 là tài sản của ông Nguyễn Văn T cho bị cáo H mƣợn sử dụng nhƣng không biết bị cáo sử dụng xe làm phƣơng tiện đến nơi thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại xe cho ông Thử là đúng quy định.
Đối với Võ Ngọc Đ hiện đã bỏ trốn, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã Quyết định truy nã, Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can, Quyết định tách vụ án, khi nào bắt đƣợc sẽ phục hồi điều tra, xử lý theo quy định.
Đối với ngƣời thanh niên mặc áo đỏ hiện chƣa rõ nhân thân, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục xác minh xử lý sau. Đối với Lâm Thủy Nguyên bị đánh nhƣng không bị thƣơng tích, không tham gia đánh trả lại nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An không xử lý.
Đối với Nguyễn Văn B dùng kéo gây thƣơng tích cho Lê Minh L đã bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thƣơng tích tại bản án số 371/2021/HSST ngày 10/12/2021, căn cứ vào Điều 56 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nghề nghiệp ổn định; trong thời gian đƣợc áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nƣớc và địa phƣơng. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết căn cứ vào Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định xử phạt bị cáo hình phạt tù nhƣng cho hƣởng án treo tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo, dƣới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích đồng thời cũng không làm ảnh hƣởng đến việc phòng chống tội phạm tại địa phƣơng. Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án đối với bị cáo.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn B là ngƣời dùng hung khí trực tiếp gây thƣơng tích cho Lê Minh L; bị cáo Lê Minh L trong quá trình đánh nhau đã dùng nón bảo hiểm để đánh lại những ngƣời trong nhóm của B. Ngoài ra, ngày 21/7/2022 bị cáo Lê Minh L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an phƣờng Bình An xử phạt vi phạm hành chính tại quyết định số 80/QĐ-XPHC ngày 25/7/2022, hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thƣờng pháp luật trong thời gian đƣợc áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo thành ngƣời có ích cho gia đình và xã hội. Tiếp tục duy trì lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với bị cáo L cho đến khi bị cáo đi chấp hành án.
Đối với mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo Nguyễn Văn B là phù hợp nên chấp nhận. Đối với bị cáo Lê Minh L và Nguyễn Văn H là nghiêm khắc, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt nhẹ hơn mức đề nghị.
Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn B, Lê Minh L và Nguyễn Văn H phạm tội Gây rối trật tự công cộng.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 02 (hai) năm tù. Tổng hợp hình phạt 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù tại bản án hình sự số 371/2021/HSST ngày 10/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Buộc bị cáo chấp hành chung hình phạt là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2020 (đƣợc khấu trừ thời gian tạm giữ ngày 04/9/2020).
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Minh L 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Tiếp tục duy trì lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An cho đến khi bị cáo đi chấp hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 08 (tám) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mƣời sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trƣờng hợp ngƣời đang chấp hành thời gian thử thách thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đối với bị cáo.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14.
Các bị cáo Nguyễn Văn B, Lê Minh L và Nguyễn Văn H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị cáo, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND TP Dĩ An; - Công an TP Dĩ An; - Chi cục THA dân sự TP Dĩ An; - Trại tạm giam CA tỉnh BD; - TAND tỉnh BD; Trại giam Tống Lê Chân; - UBND nơi cƣ trú của các bị cáo; - Phòng PV 06 CA tỉnh BD; - Phòng PC 10 CA tỉnh BD; - Các bị cáo; ngƣời tham gia tố tụng; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Liễng |