vanban.org

Bản án 230/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Về hôn nhân: chị Đoàn Lê Tố U được ly hôn với anh Nguyễn Văn Cảnh Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đoàn Lê Tố U tranh chấp “Hôn nhân gia đình - Ly hôn” với Anh Nguyễn Văn Cảnh Nh"
  • Tòa quyết gì? 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 230/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 5 - 2021
V/v tranh chấp “Hôn nhân gia đình
- Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Bích Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đình Phùng

2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Toà án nhân dân huyện

Phú Tân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa:

Ông Lưu Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú

Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:

366/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2020, về tranh chấp “Hôn nhân

gia đình - Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2021/QĐXXST-

HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2020 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Đoàn Lê Tố U, sinh năm 1993;

Địa chỉ: số 28 L4, tổ 14, Đường số 1, ấp Mỹ Kh 2, xã Mỹ Hòa H, thành

phố Long X, tỉnh An Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Trần

Tiến Vinh, Văn phòng luật sư Tiến Vinh thuộc Đoàn luật sư tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Cảnh Nh, sinh năm 1994;

Địa chỉ: ấp Bình T 2, xã Bình Thạnh Đ, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 21/9/2020, bản tự khai ngU đơn chị

Đoàn Lê Tố U trình bày: Sau khi tìm hiểu chị và anh Nh được cha mẹ hai bên tổ

chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Bình Thạnh Đông,

huyện Phú Tân, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 62 ngày 04/6/2018, chung sống thời gian đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, thường xU cãi vã, sống chung không hạnh phúc, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đến tháng 8 năm 2020 mỗi người mỗi nơi, không ai quan tâm ai, vợ chồng chính thức ly thân từ đó đến nay. Hiện tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Cảnh Nh.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Không có, không yêu cầu

Tòa án giải quyết.

Ngoài ra không có ý kiến nào khác.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn Cảnh Nh: đã được Tòa án triệu tập hợp lệ

nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không có lời trình bày.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ngU đơn yêu

cầu vắng mặt, tuy Nh có bản lý đoán để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ngU đơn và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của chị U về việ xin ly hôn với anh Nh theo quy định pháp luật.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải

quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Tuy Nh, anh Nh vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là chấp hành pháp luật chưa nghiêm.

- Về nội dung: Hôn nhân của chị U và anh Nh được xác lập trên cơ sở tự

tìm hiểu, tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, từ khi ly thân đến nay không hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của chị U xin ly hôn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại

phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề xuất nội dung giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: chị U khởi kiện yêu cầu Tòa án giải

quyết ly hôn với anh Nh và yêu cầu nuôi con chung nên xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: anh Nguyễn Văn Cảnh Nh là bị đơn có nơi cư

trú tại ấp Bình T 2, xã Bình Thạnh Đ, huyện Phú T, tỉnh An Giang, căn cứ điểm

a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp

thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An

Giang.

Chị U có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Nh đã được Tòa án triệu tập

hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử

vắng mặt anh, chị theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố

tụng dân sự.

Về nội dung: chị U yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nh. Xét

chứng cứ có trong hồ sơ cùng kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa thể hiện,

hôn nhân của anh chị được xác lập năm 2018 trên cơ sở tự tìm hiểu, có tổ chức

lễ cưới, có đăng ký kết hôn được pháp luật thừa nhận. Tuy Nh, cuộc sống chung

vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan

điểm, vợ chồng chính thức ly thân từ tháng 8 năm 2020 đến nay, không hàn gắn

được tình cảm vợ chồng trong thời gian dài sau khi ly thân mà anh chị mỗi

người sinh sống mỗi nơi, không ai quan tâm ai, từ đó tình cảm vợ chồng không

còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; do

đó, chị U yêu cầu ly hôn là có căn cứ được chấp nhận theo quy định tại Điều 56

Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên

không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Các bên không tranh chấp,

không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Ghi nhận lời trình bày đương sự không có nợ chung, nhưng sau khi Bản

án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ

chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị U và anh Nh phải liên đới chịu

trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Ngoài ra, các bên không tranh chấp về vấn đề gì khác nên không đặt ra

xem xét.

Về án phí: Chị U phải án phí theo qui định pháp luật. Anh Nh không

phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều

39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26; khoản 5, khoản 6 Điều 27 và khoản 1 Điều 48 Nghị quyết

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử:

Về hôn nhân: chị Đoàn Lê Tố U được ly hôn với anh Nguyễn Văn Cảnh

Nh.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: không có.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đoàn Lê Tố U phải chịu án phí hôn nhân,

gia đình là 300.000 đồng, được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001546 ngày 07/10/2020 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang (đã nộp đủ). Anh Nguyễn Văn Cảnh Nh không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống

đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ