- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị L xin ly hôn và giải quyết con chung với anh H"
- Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 23/2019/HNG§-ST Ngµy 12-7-2019 V/v "Tranh chấp hôn nhân và gia đình" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
*Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân
*Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngụy Văn Tuệ
2. Ông Nguyễn Quang Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên.
- Đại diện VKSND huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bộ-Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ L số 327/2018/TLST-HNGĐ ngày 21/12/2018 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2019/QĐST- HNGĐ ngày 25/6/2019 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1990 (có mặt)
Nơi cư trú: Khu Thượng, phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
* Bị đơn: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Nơi cư trú cuối cùng: Thôn Đồng Khanh, xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn xin ly hôn ngày 06/11/2018, bản tự khai và biên bản lấy lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
Chị và anh H kết hôn năm 2009, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh. Sau khi kết hôn, chị và anh H về chung sống với nhau tại xã Ngọc Vân, sau đó xuống Bắc Ninh sinh sống làm ăn. Ban đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Sau một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên mâu thuẫn là không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Năm 2015 thì vợ chồng ly thân nhau, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau và anh H đã được Tòa án tuyên bố mất tích năm 2018. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn anh H.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Hoàng Thị Trà Vy, sinh ngày 27/10/2010 và Hoàng Hương Ly, sinh ngày 26/7/2012. Hiện cháu Vy đang ở với ông bà nội còn cháu Ly đang ở với chị. Ly hôn chị nguyện vọng nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Hiện chị đang làm ở Trường mần non Sao Mai ở thành phố Bắc Ninh thu nhập trung bình là hơn 6.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà hôm nay, chị L giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh H. Về con chung chị xác nhận có hai con chung và nhận nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: Chị xác định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với anh Hoàng Văn H là bị đơn trong vụ án tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự của Tòa án đã tuyên bố anh H mất tích kể từ ngày 04/10/2018, mặc dù đã được Tòa án niêm yết hợp lệ các giấy tờ nhưng tại các buổi hòa giải, làm việc của Tòa án anh H đều vắng mặt và Tòa án đã thông báo niêm yết cho anh H về việc các chứng cứ Tòa án đã thu thập có trong vụ án nhưng anh H không có ý kiến gì và không cung cấp cho Tòa án các tài liệu chứng cứ để chứng minh cho quyền lợi của mình.
Tại phiên tòa hôm nay anh Hoàng Văn H vắng mặt.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử là đảm bảo theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn chị L chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn anh H không chấp hành đúng quy định của pháp luật. Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về nội dung vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân gia đình; Khoản 3 Điều 144; Khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Hoàng Văn H.
Về con chung: Giao cho chị L nuôi dưỡng 02 con chung là Hoàng Thị Trà Vy, sinh ngày 27/10/2010 và Hoàng Hương Ly, sinh ngày 26/7/2012. Anh Hoàng Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L.
Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thẩm quyền: Vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị L và anh H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Tân Yên thụ L và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
* Về tố tụng: Anh Hoàng Văn H đã được Tòa án niêm yết các giấy tờ hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh H.
* Đối với yêu cầu xin ly hôn và giải quyết con chung của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L, Hội đồng xét xử thấy:
[1]Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị L và anh H xác lập quan hệ hôn nhân là tự nguyện, hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng và được coi là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy, chị L và anh H có một thời gian chung sống hạnh phúc thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau. Từ năm 2015 vợ chồng sống ly thân nhau và tại Quyết định số 08/2018/QĐST - VDS ngày 04/10/2018, Tòa án đã tuyên bố anh H mất tích kể từ ngày 04/10/2018. Tại biên bản lấy lời khai của chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn và Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho anh H. Kể từ khi niêm yết thông báo thụ L, thông báo hòa giải, và các thông báo khác, anh H đều vắng mặt và không có ý kiến gì. Xét mâu thuẫn giữa chị L, anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Hoàng Thị Trà Vy, sinh ngày 27/10/2010 và Hoàng Hương Ly, sinh ngày 26/7/2012. Ly hôn chị L có nguyện vọng nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy anh H không có mặt tại địa phương đã được Tòa án tuyên bố mất tích nên không thể giao con cho anh H nuôi được, chị L có nguyện vọng nuôi con và có thu nhập ổn định đảm bảo điều kiện nuôi con, nguyện vọng của hai cháu Vy và Ly đều muốn được ở với mẹ. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị L và giao hai con chung cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân gia đình.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị L không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, ruộng canh tác, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: Chị L xác định không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại điều 271, khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình;
Điều 28; Điều 35; khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Hoàng Văn H.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Hoàng Thị Trà Vy, sinh ngày 27/10/2010 và Hoàng Hương Ly, sinh ngày 26/7/2012. Anh Hoàng Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L.
Sau khi ly hôn, anh Hoàng Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở anh H thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
3. Án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số AA/2017/0002264 ngày 21/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên. Xác nhận chị Nguyễn Thị L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Tân Yên; - Chi cục THADS Tân Yên; - UBND phường Khắc Niệm; - Các đương sự; - Lưu hs. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Vân |