- Tranh chấp gì? "Trần Văn T trộm cắp tài sản - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án s : 23/2019/HS-ST Ngày: 17-5-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Mười
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tuấn và bà Ngô Thị Mỹ Lợi
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân – Th k Tòa án nhân dân thành ph Sa Đ c, tỉnh Đồng Tháp.
- i di n i n ki m s t nh n d n thành ph
éc th m gi phi n t :
Ông Nguyễn Văn Mãi- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành ph Sa Đ c, tỉnh Đồng Tháp x t xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ l s 23/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đ a vụ án ra x t xử s 23/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2019 đ i với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm 1993 tại tỉnh Đồng Tháp
Nơi c trú: Khóm A, thị trấn K, huyện N, tỉnh Đồng Tháp.
Nghề nghiệp: Không;
Trình độ văn hóa (học vấn): 4/12
Dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; qu c tịch: Việt Nam
Con ông: Trần Văn T1, sinh 1958 và bà Huỳnh Thị P, sinh năm 1966
Vợ, con: Ch a có
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 14/9/2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 14 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”. Đ ợc đặc xá ngày 31/8/2015. Đã đ ợc xóa án tích theo quy định pháp luật.
Tạm giữ, tạm giam: Không.
Hiện bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi c trú.
Có mặt tại phiên tòa.
- Bị h i:
Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1962 (vắng mặt)
Nơi c trú: Khóm Q, Ph ờng V, thành ph L, tỉnh Đồng Tháp
- Người làm chứng:
Anh Lê Vũ B, sinh năm 1996 (vắng mặt)
Nơi c trú: Ấp D, xã X, huyện G, tỉnh An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Trần Văn T là ng ời làm công (đi ghe mua bán lúa gạo) cho anh Lê Vũ B. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 02/3/2019, Lê Vũ B điều khiển xe mô tô biển s 66G1 – 210.02 chở Trần Văn T đến cửa hàng mua bán dụng cụ thể dục, thể thao “M1” do bà Nguyễn Thị Kim H làm chủ, tọa lạc Khóm Q, Ph ờng R, thành ph S1để mua quần áo.
Trong lúc lựa chọn quần áo, T phát hiện điện thoại di động hiệu iPhone 6 Plus 16GB, màu vàng đồng đang sạc pin để trên mặt bàn quầy tính tiền. Lúc này, T quan sát xung quanh thấy không có ng ời trông giữ nên dùng tay lấy điện thoại cất giấu vào túi quần của T. Sau khi mua quần áo xong, B điều khiển xe mô tô chở T về bờ kè sông Sa Đ c thuộc Ph ờng R, thành ph S1 nơi ghe lúa đang neo đậu. Sau đó, T về nhà ở huyện N, tỉnh Đồng Tháp.
Đ i với bà H, sau khi phát hiện bị mất điện thoại đã đến Công an Ph ờng 1, thành ph Sa Đ c trình báo.
Đến khoảng 16 giờ ngày 03/3/2019 B quay trở lại cửa hàng “M1” để tiếp tục mua quần áo thì đ ợc bà H cho biết là vào ngày 02/3/2019 khi B và T đến mua quần áo thì bà H bị mất điện thoại. Nghe vậy, B điện thoại hỏi T thì T thừa nhận đã lấy điện thoại di động của bà H. Sau đó, T đem điện thoại chiếm đoạt của bà H giao nộp cho Công an Ph ờng 1, thành ph Sa Đ c, riêng sim s và p l ng điện thoại bị lạc mất không thu hồi đ ợc.
Tại biên bản và kết luận định giá tài sản s 11/HĐ.ĐGTS ngày 07/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản thành ph Sa Đ c kết luận:
- 01 điện thoại di động hiệu iPhone 6 Plus 16GB, màu vàng đồng (đã qua sử dụng) có trị giá 4.000.000 đồng;
- 01 sim điện thoại s 0939991324 (ch a thu hồi đ ợc, đã qua sử dụng) có trị giá 70.000 đồng;
- Đ i với p l ng điện thoại di động do không xác định đ ợc nhãn hiệu nên Hội đồng định giá không xác định đ ợc giá trị tài sản.
Tổng trị giá tài sản bị thiệt hại là 4.070.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành ph Sa Đ c đã trao trả 01 điện thoại di động hiệu iPhone 6 Plus 16GB, màu vàng đồng cho bà Nguyễn Thị Kim H nhận lại xong. Đ i với sim s 0939991324 và p l ng điện thoại bằng nhựa màu đen không thu hồi đ ợc, bà H không có yêu cầu gì.
Tại bản cáo trạng s 25/CT-VKSND-TPSĐ ngày 26/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành ph Sa Đ c đã truy t bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Sa Đ c trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy t và đề nghị:
p dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án từ 06 tháng t đến 09 tháng t .
Bị cáo nhận tội, không có kiến bào chữa, tranh luận, xin đ ợc h ởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng x t xử nhận định nh sau:
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, ng ời làm chứng, biên bản và kết luận định giá tài sản s 11/HĐ.ĐGTS ngày 07/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản thành ph Sa Đ c và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đ ợc có trong hồ sơ vụ án.
Qua đó đủ cơ sở xác định: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 02/3/2019, tại cửa hàng mua bán dụng cụ thể dục, thể thao “M1” tọa lạc Khóm Q, Ph ờng R, thành ph S, Trần Văn T đã thực hiện hành vi l n lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu iPhone 6 Plus 16GB, màu vàng đồng, bên trong có lắp 01 sim s 0939991324, tổng giá trị tài sản là 4.070.000 đồng của bà Nguyễn Thị Kim H nhằm mục đích vụ lợi cá nhân.
Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của ng ời khác. Bị cáo là ng ời đã thành niên nên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức đ ợc quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân đ ợc pháp luật bảo vệ. Hành vi xâm phạm trái pháp luật tài sản của ng ời khác, dù bằng hình thức nào, đều vi phạm pháp luật và s bị xử l . Thế nh ng, do bản tính tham lam, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản l tài sản nên bị cáo đã l n lút chiếm đoạt điện thoại di động, bên trong có sim s 0939991324 của bà H nhằm mục đích vụ lợi cá nhân.
Bị cáo phạm tội với l i c , động cơ mục đích vụ lợi cá nhân. Thủ đoạn thực hiện tội phạm của bị cáo táo bạo, liều lĩnh: thời điểm phạm tội vào ban ngày, địa điểm phạm tội là tại cửa hàng mua bán dụng cụ thể dục, thể thao “M1” tọa lạc Khóm Q, Ph ờng R, thành ph S1, thuộc khu vực nội ô thành ph S1, th ờng xuyên có khách ra vào mua bán hàng hóa, bên trong cửa hàng có bị hại đang bán hàng, nếu chiếm đoạt tài sản s dễ bị phát hiện và bị bắt, nh ng bị cáo không sợ sệt, không sợ bị phát hiện. Khi phát hiện thấy điện thoại di động của bà H đang sạc pin để trên bàn không ng ời trông giữ, bị cáo đã đến lấy trộm bỏ vào túi quần rồi lên xe tẩu thoát.
Bị cáo là thanh niên, tuổi đời còn trẻ, nh ng bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt 14 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em” tuy đã đ ợc xóa án tích, nh ng trong thời gian thụ hình bị cáo đã đ ợc giáo dục, học tập, giúp cho bị cáo hiểu biết đ ợc pháp luật, biết đ ợc điều gì nên làm, điều gì pháp luật ngăn cấm, nếu biết ăn năn, h i cải, làm lại cuộc đời thì bị cáo phải biết c gắng lao động, làm ăn chân chính để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu bản thân và phụ giúp gia đình. Thế nh ng do bản tính tham lam, xem th ờng pháp luật, mu n có tài sản mà không phải bỏ ra nhiều công sức lao động, nên bị cáo đã có hành vi l n lút lấy trộm một điện thoại di động hiệu iPhone 6 Plus 16GB, màu vàng đồng, bên trong có lắp một sim s 0939991324, tổng giá trị tài sản là 4.070.000 đồng của bà Nguyễn Thị Kim H để rồi một lần nữa đi vào con đ ờng phạm tội.
2 Từ những phân tích trên cho thấy, hành vi của bị cáo là đủ yếu t cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
"1. Người nào trộm cắp tài sản củ người kh c có gi trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong c c trường hợp s u đ y, thì bị ph t cải t o không gi m giữ đến 03 năm hoặc bị ph t tù từ 06 th ng đến 03 năm.
2…………….”
X t thấy, hành vi phạm tội của bị cáo tuy thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng, nh ng hành vi của bị cáo là táo bạo liều lĩnh, thể hiện sự xem th ờng pháp luật. Bị cáo nhận tội, không tranh luận, không bào chữa. X t thấy, phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng ng ời, đúng tội, đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng x t xử x t thấy cần xử l nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân t t, có thức chấp hành pháp luật, tôn trọng tài sản của ng ời khác, nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: X t thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn h i cải, đã tự nguyện giao nộp lại tài sản đã chiếm đoạt cho bị hại nhận xong, vì vậy cần áp dụng Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem x t giảm nhẹ một phần mức hình phạt đ i với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng: Đã xử l xong.
Về án phí: Bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Đ i với anh Lê Vũ B có đi cùng với T đến cửa hàng “M1”, nh ng không biết T chiếm đoạt tài sản của bà H nên không xem x t xử l .
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T mức án 08 tháng tù (Tám tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết và xử l xong.
Về án phí: p dụng Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án năm 2016
Bị cáo Trần Văn T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Riêng bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đ ợc bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh ĐT; (1b) - VKSND TP Sa Đ c; (2b) - Công an TP Sa Đ c; (4b) - Chi cục THA TP Sa Đ c; (1b) - Sở T pháp; (1b) - Thi hành án phạt tù; (1b) - Những ng ời tham gia t tụng; (2b) - L u VT, TP; (2b) - L u hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Bé Mười |