- Tranh chấp gì? "Bị cáo Nguyễn Thanh Hải - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1- Căn cứ khoản 1 điều 173, điểm s,r khoản 1 điều 51, điểm g khoản 1 điều
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số ......../2023/HS-ST Ngày 17/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH PHÚ THỌ
-Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩmgồmcó:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Trường
Các hội thẩm nhân dân:
1- Ông Hà Văn Quý
2- Ông Nguyễn Duy Vững
- Thư ký phiên Tòa: Bà Phan Thị Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Ông Phạm Mạnh
Hùng - Kiểm sátviên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Phú Thọ , xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Thanh H, Giới tính:Nam.
- Sinh năm2004
- Nơi sinh; xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ
- Nơi ĐKNKTT: Khu AL 2, xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ
- Nghề nghiệp: Lao động tự do
- Dân tộc:Kinh
- Trình độ văn hóa: Lớp 7/12
- Tôn giáo: Theo đạo Công giáo
- Quốc tịch: ViệtNam
- Chức vụ đảng, đoàn thể: Không
- Danh bản số: 057 do Công an huyện Y lập ngày 03 tháng 6 năm2023.
- Con ông: Nguyễn Văn S - sinh năm1969. Con bà: Lê Thị T - sinh năm 1974, nay đều ở tại xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
- Bị cáo chưa có vợ, con.
- Tiền sự; Bị cáo có 01 tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10/QĐ-XPHC ngày 28/11/2022 của UBND xã X, huyện Y xử phạt H 1.250.000đ về hành vi trộm cắp tài sản. H đã nộp phạt xong ngày 16/03/2023. Ngày 25/5/2023, H tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính
- Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạmgiam. Hôm nay có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh H: Bà Hoàng Thị Thanh H –Trợ
giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Thọ.
- Bị hại:
1- Chị Lê Thị Huyền T. Sinh năm 1993.
Nơi ĐKHKTT: Khu AL 2, xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
2 – Chị Đỗ Thị H; Sinh năm 1969.
Nơi ĐKHKTT: Khu AL 2, xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
(Những người bị hại đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ ngày 25/5/2023, Nguyễn Thanh H ở khu AL 2, xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ đi bộ từ nhà ra đường liên khu để chơi. Khi đi đến nhà ở của chị Lê Thị Huyền T ở cùng khu, H thấykhông có ai ở nhà nên đã vào nhà ở của chị T để để trộm cắp tài sản. Khi vào trong nhà H thấy bên trong phòng ngủ có 01 chiếc điện thoại IPHONE 6S PLUS, màu GOLD32GB(không gắn thẻ sim) để ở trên đệm trải ở trong phòng H đã trộm cắp chiếc điện thoại đúc vào túi quần, sau đó H đi ra sân nhà ở của chị T thấy trong sân có để 01 chiếc xe mô tô Honda lead và 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu JANPAN momerium dựng cạnh nhau. H thấy ở cốp để đồ của xe mô tô Honda lead có 01 chiếc chìa khóa, H dùng chiếc chìa khóa này mở được khóa xe đạp điện nên đã trộm cắp chiếc xe đạp điện này. H điều khiển xe đi đến nhà văn hóa ở Khu AL 2, xã X, huyện Y cất giấu tài sản trộm cắp được ở phía sau nhà văn hóa rồi đi về nhà. Đến sáng ngày 26/5/2023, H được Công an xã xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ triệu tập đến để làm việc, biết việc mình trộm cặp tài sản đã bị phát hiện nên H đã giao nộp toàn bộ tài sản trộm cắp cho công an xã X, Công an xã X đã chuyển toàn bộ hồ sơ và vật chứng đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Y để giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với chị Lê Thị Huyền T,đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày khi về đến nhà thì phát hiện bị mất trộm 01 chiếc điện thoại và xe đạp điện, chị T đã trình báo sự việc với công an xã X và công an huyện Y để giải quyết.
Tại cơ quan điều tra H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Ngoài ra H còn tự thú khai nhận ngoài lần trộm cắp tài sản tại nhà chị Lê Thị Huyền T, H còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của gia đình bà Đỗ Thị H ở cùng khu vào khoảng 16 giờ ngày 25/5/2023, cụ thể như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 25/5/2023, H đi bộ từ nhà ra đường liên khu để đi chơi. Khi đi đến nhà ở của bà Đỗ Thị H, sinh năm 1969 ở cùng khu H thấy nhà bà H không có ai ở nhà nên đã đi vào trong nhà để trộm cắp tài sản. Khi vào trong nhà H thấy trên bàn uống nước trong phòng khách có để 01 chiếc máy tính loại Laptop nhãn hiệu DELL Latitide E5400, H đã trộm cắp chiếc máy tính rồi mang đi cất giấu ở trường mầm non khu AL 2, xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ (Trường mầm non này bị bỏ hoang), rồi đi về nhà. Đến ngày 26/6/2023, khiđược Công an xã X triệu tập đến để làm việc, H đã giao nộp chiếc máy tính cho Công an xã X và tự thú hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đối với bà Đỗ Thị H, sau khi được Cơ quan điều tra thông báo thì bà mới biết việc Nguyễn Thanh H đã trộm cắp tài sản của bà.
Ngày 01/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Phú Thọ đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Lập để định giá tài sản gồm: 01điện thoại IPHONE 6S PLUS, màu GOLD 32GB không gắn thẻ sim; 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu JANPAN momerium; 01 chiếc máy tính Laptop nhãn hiệu DELL Latitide E5400 mà H đã trộm cắp ngày25/5/2023.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 08 ngày 01/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Y, tỉnh Phú Thọ đã kết luận:
- 01 điện thoại IPHONE 6S PLUS, màu GOLD 32GB không gắn thẻ sim có giá trị là 1.800.00 đồng;
- 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu JANPAN momerium có giá trị là 3.800.000 đồng;
- 01 chiếc máy tính Laptop nhãn hiệu DELL Latitide E5400 có giá trị là 2.500.000 đồng.
Như vậy, trong ngày 25/5/2023, Nguyễn Thanh H đã hai lần trộm cắp tài sản của chị Lê Thị Huyền T và bà Đỗ Thị H. Tổng giá trị tài sản của hai lần trộm cắp là 8.100.000 đồng. Mỗi một lần trộm cắp tài sản đều đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.
Ngày 02/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại Cơ quan điều tra H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Về nguyên nhân, điều kiện, mục đích phạm tội: Vì muốn có tiền chi tiêu cá nhân nên bị can đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trước lần phạm tội này, H đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Cụ thể: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10/QĐ-XPHC ngày 28/11/2022 của UBND xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ xử phạt H 1.250.000đ về hành vi trộm cắp tài sản. H đã nộp phạt xong ngày 16/03/2023, ngày 25/5/2023, H tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thanh H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đã tự thú khai nhận về hành vi trộm cắp tài sản của gia đình bà Đỗ Thị H nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Người phạm tội tự thú”được quy định tại điểm s, r, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Mặc dù H chưa bị kết án, nhưng trước lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của gia đình chị T bị phát hiện, H đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của của gia đình bà H, mỗi lần phạm tội đều đã hoàn thành và đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, nay bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong cùng lần phạm tội nên H không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “ Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”và Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS là “Phạm tội 02 lần trở lên”.
Vật chứng của vụ án:
- Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Thanh H do Hải tự nguyện giao nộp gồm: 01điện thoại IPHONE 6S PLUS, màu GOLD32GB không gắn thẻ sim;01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu JANPAN momerium; 01 chiếc máy tính Laptop nhãn hiệu DELL Latitide E5400; 01 chiếc quần đùi và 01 đôi dép bằng nhựa.
- Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Lập đã làm rõ nguồn gốc, chủ sở hữu hợp pháp và ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản cụ thể như sau: Trả lại cho chị Lê Thị Huyền T 01 điện thoại IPHONE 6S PLUS, màu GOLD32GB không gắn thẻ sim và 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu JANPAN momerium. Trả lại cho bà Đỗ Thị H 01 chiếc máy tính Laptop nhãn hiệu DELLLatitide E5400.
- Đối với 01 chiếc quần đùi, 01 đôi dép bằng nhựa đây là đồ dùng của Nguyễn Thanh H mặc trên người khi thực hiện hành vi phạm tội là vật chứng của vụ án được bảo quản và xử lý trong quá trình giải quyết vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra chị Lê Thị Huyền T và bà Đỗ Thị H đã nhận lại toàn bộ tài sản do Nguyên Thanh H trộm cắp. Chị T, bà H không có yêu cầu đề nghị gì về bồi thường dân sự.
Tại biên bản xác minh tài sản và nguồn thu nhập ngày 07/6/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đối với Nguyễn Thanh H xác định H đang sống cùng với bố mẹ đẻ, không có tài sản riêng có giá trị, không có việc làm nên không có nguồn thu nhập.
Tại phiên tòa bị cáo H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội trộm cắ tài sản như đã nêu trên và bị cáo tỏ thái độ rất ân hận và ăn năn về hành vi vi phạm pháp luật.
Những người bị hại đều vắng mặt đã có lời khai trong hồ sơ vụ án có nội dung: Những người này đã nhận lại đủ tài sản và không ai yêu cầu giải quyết gì về quyền lợi.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 điều 173, điểm s,r khoản 1 điều 51,điểm g khoản 1 điều 52, điều 38 của Bộ luật hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Thanh H từ 12 đến 15 tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H.
Về vật chứng và về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1 điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xác nhậnnhững người bị hại đã nhận lại đủ tài sản; Tịch thu để tiêu hủy 01 chiếc quần đùi, 01 đôi dép bằng nhựa vì không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ tiền án phí cho bị cáo vì bị cáo là người thuộc hộ cận nghèo và có đề nghị xin miễn tiền án phí.
Những người bị hại vắng mặt đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và những người này đã trình bày có nội dung không yêu cầu giải quyết gì về quyền lợi nên đề nghị Hội đồng xét xử không xemxét.
Người bào chữa bà Hoàng Thị Thanh H trình bày ý kiến bào chữa cho bị cáo H: Nhất trí ý kiến luận tội của Kiểm sát viên; Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất mà Kiểm sát viên đã đề nghị.
Bị cáo H nhất trí ý kiến bào chữa của người bào chữa, bị cáo không bổ sung thêm nội dung nào khác và không có ý kiến gì tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo hứa sẽ không bao giờ vi phạm pháp luật nữa, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về căn cứ buộc tội: Lời khai của bị cáo H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ, nên có đủ cơ sở để kết luận bị cáo H phạm tội trộm cắp tài sản: Do bị cáo H muốn có tiền chi tiêu mà lại lười lao động nên đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà Đỗ Thị H trị giá 2.500.000đ và của chị Lê Thị Huyền T, trị giá 5.600.000đ, tổng là 8.100.000đ, mỗi lần phạm tội đều đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản. Do vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đối với bị cáo H là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì đã xâm phạm đến tài sản của công dân, hành vi đó còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, vì vậy cần phải được xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và làm gương cho người khác.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân chưa tốt, trước khi phạm tội lần này bị cáo H đã có một tiền sự bị xử hạt hành chính (phạt tiền) về hành vi trộm cắp tài sản, H đã nộp tiền nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, H không lấy đó là bài học để sửa chữa bản thân mà lại vi phạm pháp luật, cụ thể là bị cáo lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị T và bà H; Như vậy khẳng định rằng bị cáo H vì muốn có tiền chi tiêu nên đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, hành vi đó của bị cáo H phải được xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s,r khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự đó là thành khẩn khai báo ăn năn hối cải và người phạm tội tự thú; Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo H mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp với quy định của Pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Căn cứ vào tính chất, hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như đã nhận xét nêu trên do đó cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp, tuy nhiên chỉ cần áp dụng mức phạt thấp nhất mà Kiểm sát viên đề nghị cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự còn quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng; Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp được chấp nhận vì bị cáo không có tài sản và thu nhập.
Về vật chứng và về trách nhiệm dân sự: Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về xử lý vật chứng là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ tiền án phí cho bị cáo là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1- Căn cứ khoản 1 điều 173, điểm s,r khoản 1 điều 51, điểm g khoản 1 điều
52, điều 38 của Bộ luật Hình sự .
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh H 12 (Mười hai) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
2- Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1 điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu để tiêu hủy 01 quần đùi nam màu đen, 01 đôi dép nhựa màu đen.
Các vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng đến chi cục Thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Phú Thọ ngày 21 tháng 7 năm 2023.
- Xác nhận bị hại chị Lê Thị Huyền T đã nhận lại đủ 01 điện thoại IPHONE 6S PLUS, màu GOLD32GB không gắn thẻ sim và 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu JANPAN momerium, bà Đỗ Thị H đã nhận lại đủ 01 chiếc máy tính Laptop nhãn hiệu DELL Latitide E5400. .
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23, điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Thanh H.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm; Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Y; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Công an huyện Y; - Bị cáo; - Bị hại; - Thi hành án hình sự; - Chi cục THADS huyện Y; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Bùi Xuân Trường |