vanban.org

Bản án 23/KDTM — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng - Cty TNHH Vĩ Kiện"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ M
___________________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2022/KDTM-ST
Ngày: 28/9/2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ M

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Vĩ Bửu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Nghiệp Hồng.

2. Ông Nguyễn M Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thanh Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí M.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí M tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí M xét xử công khai Vụ án thụ lý số 07/2022/TLST-KDTM ngày 31/5/2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2022/QĐST-KDTM ngày 18/8/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 106/2022/QĐST-KDTM ngày 12 tháng 9 năm 2022 giữa:

Nguyên đơn:Ngân hàng TMCP VNTV.

Địa chỉ: xx đường yy, quận xx, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông N D S, sinh năm 1995.

Địa chỉ liên lạc: xx đường yy, Phường xx, Quận yy, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Công ty TNHH MTV VK.

Địa chỉ: xx đường yy, Phường xx, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông T M, sinh năm 1983.

Địa chỉ: xx đường yy, Phường xx, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông T M, sinh năm 1983.

Địa chỉ: xx đường yy, Phường xx, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện và Biên bản lời khai, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP VNTV, do ông N D S là người đại diện theo ủy quyền trình bày như sau:

Công ty TNHH MTV VK (gọi tắt là Công ty VK) đã vay của Ngân hàng TMCP VNTV số tiền 467.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số H11/20373 ngày 26/10/2020 cùng Khế ước nhận nợ số: H11/20373-01 ngày 26/10/2020. Thời hạn vay 06 tháng, từ ngày 26/10/2020 đến 26/4/2021, lãi suất 21.1%/năm.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty VK đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, đến nay Công ty VK vẫn chưa trả một khoản tiền nào cho Ngân hàng. Theo Bảng kê chi tiết về tiền nợ của Ngân hàng cung cấp cho Tòa án, tính đến ngày 28/9/2022, Công ty VK còn thiếu nợNgân hàng TMCP VNTV số tiền như sau:

- Nợ gốc: 467.000.000 đồng,

- Lãi quá hạn: 321.917.945 đồng.

- Lãi chậm trả: 19.768.744 đồng.

Tổng cộng là: 718.686.689 đồng.

Ngân hàng TMCP VNTV yêu cầu Công ty VK trả hết một lần toàn bộ số tiền nợ trên sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, yêu cầu Công ty VK phải tiếp tục trả lãi tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận quy định tại Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 29/9/2022 cho đến khi thanh toán hết nợ.

Trường hợp Công ty VK không thanh toán nợ thì Ngân hàng yêu cầu ông T M, là người đại diện theo pháp luật của Công ty VK phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản nợ trên theo Hợp đồng bảo lãnh số H11/20373/HĐBL ngày 26/10/2020 để Ngân hàng thu hồi nợ.

Tại phiên tòa hôm nay, ông N D S, là người đại diện theo ủy quyền củaNgân hàng TMCP VNTV có Đơn yêu cầu vắng mặt.

b) Bị đơn là Công ty VK và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông T M vắng mặt tại phiên tòa.

c) Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến như sau:

* Về thủ tục tố tụng:

Trong quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự tố tụng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Thẩm phán chưa đảm bảo về thời hạn tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; chưa đảm bảo thời hạn đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật, đề nghị khắc phục.

* Về nội dung vụ án:

Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cụ thể như sau:

- Buộc Công ty VK phải trả choNgân hàng TMCP VNTV số tiền nợ tính đến ngày 28/9/2022 là:

Nợ gốc: 467.000.000 đồng,

Lãi quá hạn: 321.917.945 đồng.

Lãi chậm trả: 19.768.744 đồng.

Tổng cộng là: 718.686.689 đồng

- Công ty VK phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 29/9/2022 cho đến khi thanh toán hết nợ.

- Trường hợp Công ty VK không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì ông T M phải có trách nhiệm trả nợ thay đối với Ngân hàng theo Hợp đồng bảo lãnh số H11/20373/HĐBL ngày 26/10/2020 .

- Về án phí: Bị đơn phải chịu án án phí trên số tiền nguyên đơn được chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứ u các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án đa đượ̃

c thẩm tra ta ̣i phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n đi ̣nh:

1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

GiữaNgân hàng TMCP VNTV và Công ty VK đã ký kết Hợp đồng tín dụng, trong quá trình thực hiện hợp đồng đã phát sinh tranh chấp về nghĩa vụ trả nợ nên phía Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự. Công ty Vân Phụng có trụ sở tại Quận 11, Thành phố Hồ Chí M nên vụ án thuộc thẩm quyền giải giải của Tòa án nhân dân Quận 11 theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông N D S, là người đại diện theo ủy quyền củaNgân hàng TMCP VNTV có đơn yêu cầu được vắng mặt tại các phiên tòa xét xử. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là Công ty VK và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông T M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng. Công ty VK và ông T M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai về việc tham gia phiên tòa xét xử nhưng tất cả đã vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

2. Về yêu cầu của các bên đương sự:

a) Về yêu cầu của nguyên đơn:

Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số H11/20373 ngày 26/10/2020 ký kết giữaNgân hàng TMCP VNTV và Công ty VK, Khế ước nhận nợ và các tài liệu chứng cứ mà phía Ngân hàng đã cung cấp, có cơ sở để xác địnhNgân hàng TMCP VNTV đã cho Công ty VK vay số tiền 467.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty VK đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và chưa trả cho Ngân hàng một khoản tiền nào. Tính đến ngày 28/9/2022, Công ty VK còn thiếuNgân hàng TMCP VNTV các khoản tiền nợ như sau:

- Nợ gốc: 467.000.000 đồng.

- Lãi quá hạn: 321.917.945 đồng.

- Lãi chậm trả: 19.768.744 đồng.

Tổng cộng là: 718.686.689 đồng

Xét thấy: Công ty VK đã vi phạm thời hạn trả nợ theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng, làm thiệt hại lợi ích hợp pháp củaNgân hàng TMCP VNTV. Do đó, việcNgân hàng TMCP VNTV yêu cầu Công ty VK trả toàn bộ số tiền nợ trên và phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng cho đến khi trả dứt nợ là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Trường hợp Công ty VK không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì ông T M, là người đại diện theo pháp luật của công ty phải có trách nhiệm trả nợ thay theo Hợp đồng bảo lãnh số H11/20373/HĐBL ngày 26/10/2020 là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

b) Về phía bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “ Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng M cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.

(…) Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng M cho sự phản đối đó …”

Căn cứ vào kết quả xác M của Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố Hồ Chí M thì: Công ty TNHH MTV VK có trụ sở tại địa chỉ: 76/80 Lý Nam Đế, Phường 7, Quận 11, Thành phố Hồ Chí M, do ông T M là người đại diện theo pháp luật và hiện nay chưa đăng ký giải thể.

Căn cứ vào kết quả xác M Công an Phường 7, Quận 11 thì ông T M có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: 76/80 Lý Nam Đế, Phường 7, Quận 11, Thành phố Hồ Chí M, đã bỏ đi khỏi địa phương và Công ty VK cũng không còn hoạt động tại địa chỉ trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng đối với Công ty VK và ông T M nhưng tất cả đã không đến Tòa án để giải quyết, không ai cung cấp cho Tòa án chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên Hội đồng xét xử xét thấy, việc buộc Công ty VK phải có trách nhiệm trả nợ choNgân hàng TMCP VNTV theo các yêu cầu của Ngân hàng là có cơ sở, đúng quy định pháp luật. Đồng thời, trong trường hợp Công ty VK không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì ông T M, là người đại diện theo pháp luật của công ty phải có trách nhiệm trả nợ thay theo Hợp đồng bảo lãnh số H11/20373/HĐBL ngày 26/10/2020 là đúng quy định pháp luật.

3) Về án phi: Công ty VK phải chi ̣u án phi kinh doanh thương mại sơ thẩ m

́

́ theo quy định của pháp luật.

4. Về ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trong việc giải quyết vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy, tất cả các đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 về việc giải quyết vụ án như đã trình bày ở phần trên là có cơ sở, đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.

Vi cà ́c le trên;̃

́

QUYÊT ĐI ̣NH

- Căn cứ khoản 3 điều 26, khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 91; Điều 95 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu củaNgân hàng TMCP VNTV.

2. Buộc Công ty TNHH MTV VK có nghĩa vụ trả nợ choNgân hàng TMCP VNTV theo Hợp đồng tín dụng số H11/20373 ngày 26/10/2020. Tính đến ngày 28/9/2022, tổng số tiền nợ là: 718.686.689 đồng (bảy trăm mười tám triệu sáu trăm tám mươi sáu nghìn sáu trăm tám mươi chín đồng), gồm có:

- Nợ gốc: 467.000.000 đồng.

- Lãi quá hạn: 321.917.945 đồng.

- Lãi chậm trả: 19.768.744 đồng.

Công ty TNHH MTV VK có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP VNTV toàn bộ số tiền nợ trên một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Công ty TNHH MTV VK có nghĩa vụ tiếp tục trả cho Ngân hàng TMCP VNTV tiền lãi quá hạn phát sinh trên số tiền nợ gốc tính kể từ ngày 29/9/2022 theo mức lãi suất thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ.

4. Trường hợp Công ty TNHH MTV VK không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì ông T M, là người đại diện theo pháp luật của Công ty phải có trách nhiệm trả nợ thay đối với Ngân hàng TMCP VNTV theo Hợp đồng bảo lãnh số H11/20373/HĐBL ngày 26/10/2020.

5. Về án phí:

- Công ty TNHH MTV VK chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 32.747.467 đồng (ba mươi hai triệu bảy trăm bốn mươi bảy nghìn bốn trăm sáu mươi sáu đồng).

- Hoàn trả lạiNgân hàng TMCP VNTV cho số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.616.614 đồng (mười bốn triệu sáu trăm mười sáu nghìn sáu trăm mười bốn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0020085 ngày 19/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

6. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án dân sự của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

7. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thờ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ