vanban.org

Bản án 23 — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh T, chị Q yêu cầu anh D bồi thường thiệt hại về sức khỏe với số tiền 42.

Buộc anh Ngô Văn D bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Nguyễn Văn T, chị Bùi Kim Q 42.250.000đ( Bốn mươi hai triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên thì hàng tháng bên phải thi …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "bản án"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh T, chị Q yêu cầu anh D bồi thường thiệt hại về sức khỏe với số tiền 42.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

C

C

M

M

Độc lập- ự do- ạnh phúc Ỉ ĐỒ Bản án số: 23/2018/DS - ST Ngày 31/7/2018 V/v yêu cầu BTTH về sức khỏe

NHÂN DANH

ỚC C

C

M

TÒA ÁN NHÂN DÂN

M

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thời.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Vững

Ông Mai Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Trang, Thư ký Tòa án huyện Tháp Mười.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bạch Nga - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20/7/2018, tại trụ sở Toà án huyện Tháp Mười, mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án dân sự đã thụ lý số: 545/2017/TLST - DS, ngày 18/10/2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/ 2018/QĐXXST-DS, ngày 20 tháng. 4 năm 2018, Về việc “Yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe”, giữa:

- Nguyên đơn: Nguyễn Văn T, sinh năm 1986.

Bùi Kim Q, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Ấp MĐ, xã PĐ, huyện Tháp Mười, Đồng Tháp.

- Bị đơn: Ngô Văn D, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Khóm 2, TT MA, huyện TM, Đồng Tháp.

Có mặt tại phiên tòa: Anh T, chị Q.

Vắng mặt: Anh D (vắng mặt không lý do).

Ụ

Theo đơn khởi kiện, anh Nguyễn Văn T, chị Bùi Kim Q trình bày:

Vào khoảng 18 giờ 50 phút, ngày 22/8/2016 tại đọan đường Phạm Ngọc Thạch, thuộc khóm 4, TT Mỹ An. Anh T bị Ngô Văn D chạy xe ba gác va chạm với xe máy anh của vợ chồng anh. Anh chạy ngược chiều lôi xe anh , làm vợ chồng anh té xuống đường, cả hai đều bị gãy chân trái nhiều đoạn. Vợ chồng anh được bệnh viện đa khoa Tháp Mười sơ cứu và chuyển lên bệnh viện đa khoa Đồng Tháp.

Đến bệnh viện đa khoa Đồng Tháp do vết thương quá nặng nên các bác sĩ chuyển anh T lên bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh để điều trị tiệp. Chị Q thì điều trị tại bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp.

Vợ chồng anh điều trị được 01 tuần với chi phí hóa đơn thanh toán lên đến 42.250.000đ, chưa kể tiền sửa xe và chi phí điều trị. Vợ chồng anh không đủ chi phí nên về nhà điều trị cho đến nay.

Ngày 16/02/2017, Công an huyện Tháp Mười mời vợ chồng anh và anh D đến thương lượng, giải quyết vụ việc và anh D đồng ý bồi thường cho vợ chồng anh số tiền 42.250.000đ. Nhưng anh D hứa trả mỗi tháng 1.000.000đ. Tiền chi phí điều trị là tiền vay nên không đồng ý .

Nay, anh T, chị Q yêu cầu anh Ngô Văn D bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho vợ chồng anh với tổng số tiền 42.250.000đ.

- Anh Ngô Văn D Tòa án tống đạt hợp lệ ( vợ anh D nhận) Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định xét xử; Nhưng anh D vắng mặt không lý do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát Huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa:

Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, đúng quan hệ tranh chấp theo qui định tại Điều 26,35,39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử, nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử , Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự .

Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Anh D vắng mặt các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa là chưa chấp hành nghiêm pháp luật.

Về nội dụng vụ án: Tòa án căn cứ Điều 584,590 Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 03 ngày 08/7/2006, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn T và chị Bùi Kim Q, buộc anh Ngô Văn D bồi thường cho anh T, chị Q số tiền 42.250.000đ.

Ậ ĐỊ C

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định :

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh D là bị đơn đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt anh D.

[2] Về quan hệ pháp luật: Anh T, chị Q yêu cầu anh D bồi thường thiệt hại về sức khỏe với số tiền 42.250.000đ . Đây là vụ kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe được quy định tại các Điều 584, 590 Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 03 ngày 08/7/2006, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Theo khoản 6 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.

Tại phiên tòa, anh T, chị Q cho rằng anh D điều khiển xe ba gác từ hướng khu dân cư khóm 4, Thị trấn Mỹ An về đường kênh tư, còn anh điều khiển xe Hon da chở chị Q đi ngược chiều, anh D lấn sang phần đường của anh làm anh té ngã, anh và chị Q đều bị gãy chân nên yêu cầu anh D bồi thường tiền thuốc theo toa là 42.250.000đ không yêu cầu thêm các chi phí khác.

Xét thấy: yêu cầu của anh T, chị Q bị tai nạn là do anh D gây ra, phù hợp với Biên bản tai nạn giao thông của Công an Thị trấn Mỹ An lập lúc 19 giớ ngày 22/8/2016; Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông của Công an huyện Tháp Mười lập lúc 9 giờ ngày 23/8/2016;

Theo kết luận số 170/TgT-TTPY, ngày 08/6/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp. Anh T bị tỷ lệ thương tật 41%;

Theo kết luận số 171/TgT-TTPY, ngày 08/6/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp. Chị Q bị tỷ lệ thương tật 14%.

Xét về lỗi anh D, anh D là người có lỗi nên anh có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh T, chị Q là phù hợp pháp luật.

Tại Điều 584, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Xét số tiền mà anh T, chị Q yêu cầu anh T bồi thường theo hóa đơn 42.250.000đ là phù hợp Điều 590 Bộ luật dân sự ;

Tại Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án phù hợp pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh T, chị Q.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh D phải nộp 2.112.500đ ( 42.250.000đ x5%), án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

Q Ế ĐỊ

Áp dụng khoản 6 Điều 26, Điều 35, Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 584, Điều 590 của Bộ luật dân sự 2015, Nghị quyết số 03 ngày 08/7/2006, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu của anh T, chị Q yêu cầu anh D bồi thường thiệt hại về sức khỏe với số tiền 42.250.000đ.

Buộc anh Ngô Văn D bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Nguyễn Văn T, chị Bùi Kim Q 42.250.000đ( Bốn mươi hai triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng)

- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành xong.

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh D phải nộp 2.112.500đ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Dự vắng mặt phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

[

M.

ĐỒ

É Ử SƠ ẨM

Cỡ chữ