- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Bảo T bị truy tố về tội cố ý làm hư hỏng tài sản - hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Bảo T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6-VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2026/HS-ST Ngày: 08-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6-VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đoan Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tất Linh
Ông Nguyễn Chí Hữu
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Như – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Thạch Thiện – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6-Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2026/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2026/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
TRẦN BẢO T, sinh năm 1996; Địa chỉ: ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long. Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; con ông Trần Văn K, sinh năm 1971 và bà Phạm Thị Kim H, sinh năm 1970. Có vợ Lê Thị Trúc T1, sinh năm 1997; Có 01 con sinh năm 2023; Tiền sự: không; Tiền án: không;
Về nhân thân: Ngày 13/4/2023, bị Công an huyện M, tỉnh Bến Tre (cũ) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 4.400.000 đồng về hành vi “vô ý gây thương tích” và “cố ý làm hư hỏng tài sản” theo Quyết định số 36/QĐ-XPHC (chưa nộp phạt, đã hết thời hiệu thi hành).
Bị cáo Trần Bảo T đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là tạm giam từ ngày 30/12/2025 cho đến nay, tại Phân Trại tạm giam Mỏ Cày thuộc Trại Tạm giam số 02 Công an tỉnh V.
Bị cáo Trần Bảo T bị tạm giam có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Nhật Long H1 – Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh V (có mặt).
* Bị hại: Bà Cao Thị L, sinh năm 1973;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp D, xã N, tỉnh Đồng Nai.
Nơi tạm trú: ấp P, xã B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1.Ông Võ Văn G, sinh năm 1993;
Địa chỉ: số C ấp L, xã C, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
2.Ông Lê Huỳnh Thanh H2, sinh năm 2002;
Địa chỉ: ấp L, xã C, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
3.Bà Phạm Thị Kim H, sinh năm 1970;
Địa chỉ: ấp P xã P, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
* Người làm chứng:
1.Bà Phùng Thị Thanh H3, sinh năm 2001;
Địa chỉ: số C ấp L, xã C, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
2.Bà Trần Thị Mỹ T2, sinh năm 1985;
Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
3.Ông Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1988;
Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 50 phút ngày 14/6/2025, ông Võ Văn G điều khiển xe ô tô hiệu Huyndai, số loại Accent biển số 60K-230.46 chở theo bà Phùng Thị Thanh H3 (vợ anh G), cháu Võ Thành N (con anh G) và ông Lê Huỳnh Thanh H2 (bạn ông G) lưu thông theo hướng từ Tỉnh lộ 882 đi Quốc lộ F. Khi đến khu vực ngã tư Chợ X, xã T, tỉnh Vĩnh Long thì gặp bị cáo Trần Bảo T sau khi có uống bia điều khiển xe mô tô biển số 71C4-323.26 loại xe SH Mode màu đỏ theo hướng ngược chiều chặn xe ô tô của ông G. Ông G hạ kính xe ô tô xuống hỏi “có gì không anh” thì bị cáo T chửi và nói “tắt đèn pha”. Ông G trả lời “em đâu có bắt đèn pha đâu anh” thì bị cáo T dùng tay trái đập vào kính chiếu hậu bên trái xe ô tô làm hư hỏng. Sau đó, bị cáo T điều khiển xe mô tô chạy về hướng chợ B, xã P nên ông G điều khiển xe ô tô đuổi theo. Khi đến khu vực ấp T, xã T, ông G đuổi kịp và chặn được xe mô tô của bị cáo; ông G và ông H2 xuống xe ô tô để nói chuyện thì bị cáo đi đến cự cãi và xảy ra đánh nhau với ông G, ông H2. Bị cáo đuổi đánh ông G và H2 chạy vòng quanh xe ô tô làm người và tay của ông H2 va chạm cản chắn gió. Sau đó, bị cáo lên xe mô tô thì ông G giữ xe mô tô và xô ngã xe của bị cáo. Bị cáo dùng nón bảo hiểm đập 02 cái vào kính chắn gió phía sau xe ô tô của ông G làm hư hỏng, sau đó bị cáo điều khiển xe mô tô rời khỏi hiện trường và ông G đến trình Công an xã T nội dung vụ việc.
Theo Kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐGTS ngày 28/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản tỉnh Vĩnh Long kết luận: Gương chiếu hậu bên trái phần gương bị nứt, bể, rời khỏi gương, trị giá 846.720 đồng; Cản chắn gió phía sau xe ô tô bị sứt hoàn toàn và rời khỏi thân xe, trị giá 2.016.000 đồng; Kính chắn gió phía sau xe ô tô bị bể thủng một lỗ, nứt li ti nhiều nơi, trị giá 4.212.000 đồng; Tổng giá trị khôi phục tình trạng ban đầu của tài sản là 7.074.720 đồng.
Theo Kết luận giám định số 300/2025/KL-KTHS-KV2 ngày 20/11/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận:
1. Qua giám định nội dung hình ảnh trong tập tin video gửi giám định (ký hiệu A): Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa.
2. Nội dung yêu cầu giám định nêu tại mục III.2: Chi tiết được mô tả trong bản ảnh kèm theo kết luận giám định.
Theo Kết luận giám định số 315/KL-KTHS-KV3 ngày 12/12/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận:
- Mũ (nón) bảo hiểm có đặc điểm và hình dạng tương tự mũ bảo hiểm là vật chứng gửi giám định tạo ra được dấu vết vỡ tương tự dấu vết vỡ trên kính chắn gió phía sau của xe ô tô biển số 60K-230.46.
- Hành động dùng tay đập (đấm) vào kính gương chiếu hậu bên trái tạo ra được dấu vết phần kính gương bị nứt, bể, rời khỏi gương của xe ô tô biển số 60K-230.46.
Theo Kết luận giám định số 06/KL-KTHS-KV3 ngày 29/01/2026 của Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận: Mũ (nón) bảo hiểm bằng nhựa, loại có kính, mũ màu trắng hoa văn màu hồng, nhãn hiệu: Andes, size vòng đầu 59cm (vật chứng) tạo ra được dấu vết vỡ trên kính chắn gió phía sau xe của xe ô tô biển số 60K-230.46 theo Kết luận giám định số 315/KL-KTHS-KV3 ngày 12/12/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh V.
Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 38/2026/KLGĐ ngày 27/01/2026 của Trung tâm P kết luận Trần Bảo T:
- Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng rượu (F10.71 – ICD10);
- Tại thời điểm thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã thu giữ và xử lý: Trả cho bà Cao Thị L: 01 xe ô tô biển số 60K-230.46 nhãn hiệu HUYNDAI; số loại ACCENT, màu sơn trắng; số máy: G4LCPU888582; số khung: RLUAD41BBPN101997; Trả cho bà Lê Thị Trúc T1: 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa, loại có kính, màu trắng hoa văn màu hồng, nhãn hiệu: Andes, size vòng đầu: 59 cm.
- Tiếp tục chuyển theo vụ án để xử lý: 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa, loại có kính, mũ màu trắng hoa văn màu hồng, nhãn hiệu: Andes, size vòng đầu: 59 cm, trọng lượng: 700 gam (thuộc sở hữu của bị cáo); 02 đĩa DVD lưu trữ cùng 02 video ghi lại vụ việc Trần Bảo T làm hư hỏng xe ô tô; 02 đĩa DVD lưu trữ cùng 01 video ghi lại vụ việc Trần Bảo T làm hư hỏng xe ô tô.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động bà Phạm Thị Kim H (mẹ ruột) tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Võ Văn G số tiền 5.058.720 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 04/CT-VKSVLG-KV ngày 10/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Trần Bảo T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà: Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo. Bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi nhưng bị cáo vẫn nhận thức được hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, i, s, q khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, xét thấy gia đình bị cáo có công với đất nước, có ông ngoại Phạm Văn C là liệt sỹ; Đại diện theo ủy quyền của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2025.
Về xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho bị hại bà Cao Thị L 01 xe ô tô biển số 60K-230.46 nhãn hiệu HUYNDAI; số loại ACCENT, màu sơn trắng; số máy: G4LCPU888582; số khung: RLUAD41BBPN101997; Trả cho bà Lê Thị Trúc T1: 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa, loại có kính, màu trắng hoa văn màu hồng, nhãn hiệu: Andes, size vòng đầu: 59 cm. Đề nghị tịch thu tiêu hủy của bị cáo 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa, loại có kính, mũ màu trắng hoa văn màu hồng, nhãn hiệu: Andes, size vòng đầu: 59 cm, trọng lượng: 700 gam; Lưu giữ 02 đĩa DVD lưu trữ cùng 02 video ghi lại vụ việc Trần Bảo T làm hư hỏng xe ô tô; 02 đĩa DVD lưu trữ cùng 01 video ghi lại vụ việc Trần Bảo T làm hư hỏng xe ô tô.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bà Phạm Thị Kim H (mẹ ruột) tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại bà Cao Thị L số tiền 5.058.720 đồng. Ghi nhận bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét thấy, người làm chứng bà Trần Thị Mỹ T2, ông Nguyễn Ngọc T3 vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên người làm chứng đã có lời khai rõ ràng trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của người làm chứng không trở ngại cho việc xét xử, cũng không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của bị cáo thấy rằng lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, có đủ cơ sở xác định:
Mặc dù không có mâu thuẫn với nhau nhưng vào khoảng 17 giờ 50 phút ngày 14/6/2025, tại ấp C và ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) bị cáo Trần Bảo T sau khi có uống bia đã có hành vi dùng tay đập vào gương chiếu hậu bên trái làm phần gương bị nứt, bể, rơi khỏi bệ tay giữ gương của xe ô tô biển số 60K.230.46, trị giá là 846.720 đồng và dùng nón bảo hiểm đập vào kính chắn gió phía sau xe ô tô biển số 60K.230.46 của bà Cao Thị L làm cho kính bị bể thủng một lỗ, nứt li ti nhiều nơi, trị giá là 4.212.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị thiệt hại là 5.058.720 đồng.
Xét thấy, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người bị hạn chế năng lực nhận thức và điều khiển hành vi do sử dụng rượu nhưng bị cáo vẫn có khả năng nhận biết được hành vi gây hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, thấy trước được hậu quả xảy ra nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo không những gây nguy hiểm cho xã hội, gây mất gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội ở địa phương mà còn xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật Hình sự bảo vệ. Vì vậy, Bản cáo trạng số số 04/CT-VKSVLG-KV ngày 10/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Trần Bảo T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng luật định.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
Về nhân thân: Mặc dù bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Công an huyện M xử phạt hành chính 4.400.000đồng về hành vi vô ý gây thương tích và cố ý làm hư hỏng tài sản nhưng hết thời hiệu thi hành nên không nộp phạt.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, bị cáo bị bệnh lý tâm thần bị hạn chế năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, i, s, q khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, xét thấy gia đình bị cáo có công với đất nước, có ông ngoại Phạm Văn C là liệt sĩ, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian mới đủ sức giáo dục bị cáo cũng như răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên không áp dụng thêm hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với đại diện Viện kiểm sát về tội danh cũng như điều luật áp dụng, hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm hoàn cảnh bị cáo có con còn nhỏ, mẹ bị bệnh tim, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt dưới mức 06 tháng tù mà kiểm sát viên đề nghị để bị cáo sớm về với gia đình. Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt có xem xét đến hoàn cảnh gia đình cũng như các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo cho phù hợp hành vi bị cáo gây ra.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Cao Thị L đã nhận số tiền bồi thường tổng cộng là 5.058.720 đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác nên ghi nhận.
Về xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho bị hại bà Cao Thị L 01 xe ô tô biển số 60K-230.46 nhãn hiệu HUYNDAI; số loại ACCENT, màu sơn trắng; số máy: G4LCPU888582; số khung: RLUAD41BBPN101997; Trả cho bà Lê Thị Trúc T1: 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa, loại có kính, màu trắng hoa văn màu hồng, nhãn hiệu: Andes, size vòng đầu: 59 cm. Tịch thu tiêu hủy của bị cáo 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa, loại có kính, mũ màu trắng hoa văn màu hồng, nhãn hiệu: Andes, size vòng đầu: 59 cm, trọng lượng: 700 gam; Lưu giữ 02 đĩa DVD lưu trữ cùng 02 video ghi lại vụ việc Trần Bảo T làm hư hỏng xe ô tô; 02 đĩa DVD lưu trữ cùng 01 video ghi lại vụ việc Trần Bảo T làm hư hỏng xe ô tô.
Đối với hành vi của Lê Huỳnh Thanh H2 trong quá trình chạy khi bị cáo T đuổi đánh đã làm hư hỏng tài sản cản chắn gió phía sau xe ô tô biển số 60K-230.46 của anh Võ Văn G với trị giá là 2.016.000 đồng nhưng do vô ý nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm và không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Bảo T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;
Áp dụng: Khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Bảo T: 06(Sáu) tháng tù;
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/12/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy của bị cáo: 01 (một) mũ bảo hiểm bằng nhựa, loại có kính, mũ màu trắng hoa văn màu hồng, nhãn hiệu: Andes, size vòng đầu 59 cm, trọng lượng: 700 gam.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/4/2026, hiện Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6-Vĩnh Long đang quản lý)
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Trần Bảo T được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
Trong thời hạn 15(mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- VKSND khu vực 6-Vĩnh Long;
- Công an tỉnh Vĩnh Long;
- THADS tỉnh Vĩnh Long
- Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
- UBND xã Phước Mỹ Trung;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Đoan Trang
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Tất Linh
Nguyễn Chí Hữu
Nguyễn Thị Đoan Trang
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND khu vực 6-Vĩnh Long; - Công an tỉnh Vĩnh Long; - THADS tỉnh Vĩnh Long - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Long; - UBND xã Phước Mỹ Trung; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Tất Linh Nguyễn Chí Hữu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Đoan Trang THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Đoan Trang CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |