vanban.org

Bản án 23/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: tuyên bố bị cáo Đỗ Đình L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Đình L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án số 300/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của Tòa án nhân dân quận HM, Thành phố Hà Nội là 03 năm 11 tháng 07 ngày, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 07 (bẩ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Đình L - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: tuyên bố bị cáo Đỗ Đình L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự - xử phạt; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Thông tư số 22/2019/TT-BYT quy định tỷ lệ phần trăm tổn thươ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2026/HS-ST
Ngày: 26 - 01 - 2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lại Xuân Cảnh;

Các Hội thẩm nhân dân: bà Trần Thị Hoa và ông Nguyễn Văn Khoát.

- Thư ký phiên tòa: bà Nhiếp Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Ngô Đức Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 88/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 126/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/HSST-QĐ ngày 29 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:

- Đỗ Đình L, sinh ngày 19/7/1987; nơi thường trú: thôn BC, xã KC, tỉnh Hưng Yên; số định danh cá nhân: 033087004027; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đình L1 và bà Nguyễn Thị Kh; vợ, con: chưa có; tiền án: ngày 12/6/2020, Tòa án nhân dân quận HK, Thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 18/11/2021, Tòa án nhân dân quận HM, Thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”, tổng hợp với 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 104/2020/HSST ngày 12/6/2020 của Tòa án nhân dân quận HK, buộc bị cáo phải chấp hành chung cho hai bản án là 30 tháng tù; ngày 17/10/2024, Tòa án nhân dân quận NTL, Thành phố Hà Nội xử phạt 32 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 16/12/2024, Tòa án nhân dân quận HM, Thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với 32 tháng tù của bản án số 294/2024/HSST ngày 17/10/2024 Tòa án nhân dân quận NTL, Thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án là 62 tháng tù; tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/10/2025, hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Ninh Bình; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Nguyễn Thanh M, sinh năm 1986; nơi thường trú: thôn Th, xã TH, tỉnh Hưng Yên; hiện nay đang chấp hành án phạt tù tại Phân trại 1, Trại giam Nam Hà, Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng (C10), Bộ Công an; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Trại giam Nam Hà, Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng (C10), Bộ Công an; địa chỉ: tổ dân phố ĐT, phường NU, tỉnh Ninh Bình; người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Văn N - Chức vụ: Giám thị; vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Vũ Ngọc S; có mặt.

2. Ngô Huỳnh Đ; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Đình L và Nguyễn Thanh M đều là phạm nhân, đang chấp hành án tại Phân trại 1, Trại giam Nam Hà, Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng (C10), Bộ Công an, thuộc địa bàn tổ dân phố ĐT, phường NU, tỉnh Ninh Bình. Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 16/5/2025, trong lúc M đang ngồi trong nhà vệ sinh tại xưởng lao động Đội 7, Phân trại 1, Trại giam Nam Hà, thì L đi vào và cho song mây (là nguyên liệu lao động) vào thùng nước để ngâm, đã làm bắn nước vào người M. Thấy vậy, M nói với L: “Làm gì thì làm nhẹ tay thôi, sao để nước bắn hết vào người tao thế”, L nói: “Ý mày sao?”, thì M nói lại: “Sao là sao?”, dẫn đến mâu thuẫn cãi chửi nhau. Sau đó, L dùng tay phải đấm 02 phát và dùng chân phải đạp 01 phát vào vùng mặt M. Khi thấy đánh nhau xảy ra, cán bộ quản giáo cùng các phạm nhân khác đã khống chế L, lập Biên bản phạm tội quả tang và đưa M đến Bệnh xá Phân trại 1 xử lý vết thương, sau đó đưa M đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam. Hậu quả: M bị gãy xương chính mũi và vách ngăn mũi, rách da đầu trên cung lông mày phải kích thước (1,2 x 0,5)cm, sưng nề góc trong dưới mi mắt phải.

* Đồ vật, tài sản thu giữ: không.

Ngày 26/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam (nay là: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình) ban hành Quyết định trưng cầu giám định, trưng cầu Trung tâm Giám định y khoa và Pháp y tỉnh Hà Nam giám định thương tích của Nguyễn Thanh M. Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 100/KLTTCT-TTGĐYK&PY ngày 30/5/2025 của Trung tâm Giám định y khoa và Pháp y tỉnh Hà Nam kết luận: “Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thanh M tại thời điểm giám định là 11% (mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Thương tích mắt phải, thương tích khác và di chứng khi Nguyễn Thanh M điều trị ổn định đề nghị Quý cơ quan trưng cầu giám định bổ sung. Qua nghiên cứu hồ sơ tài liệu và khám giám định, nhận định: thương tích do vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây nên”.

Ngày 20/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình ban hành Quyết định trưng cầu giám định bổ sung, trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh Ninh Bình giám định bổ sung pháp y về thương tích của Nguyễn Thanh M. Tại bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 12/KLTTCT-TTPY ngày 29/7/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Ninh Bình kết luận: “Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thanh M tại thời điểm giám định là: Không xác định. Do trong quá trình giám định không xác định chính xác tổn thương “thị thần kinh hậu nhãn cầu” là hậu quả của chấn thương hay do nguyên nhân khác. Trung tâm Pháp y tỉnh Ninh Bình đề nghị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình cho đương sự giám định tuyến trên”.

Ngày 22/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình ban hành Quyết định trưng cầu giám định bổ sung, trưng cầu Viện Pháp y Quốc gia giám định bổ sung pháp y về thương tích của Nguyễn Thanh M. Tại bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 98/KLTTCT-PYQG ngày 05/9/2025 của Viện Pháp y Quốc gia kết luận: “Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể bổ sung thương tích đối với mắt phải của Nguyễn Thanh M tại thời điểm giám định là: 00% (Không phần trăm). Tỷ lệ tổn thương cơ thể không thay đổi sau khi giám định bổ sung”.

* Về trách nhiệm dân sự: bị hại Nguyễn Thanh M yêu cầu Đỗ Đình L bồi thường về sức khỏe và danh dự, nhân phẩm tổng số tiền 100.000.000 đồng. Đỗ Đình L xác định L đang chấp hành án phạt tù, chưa có điều kiện để bồi thường, nên khi nào chấp hành xong hình phạt, L sẽ bồi thường cho M theo quy định của pháp luật. Trại giam Nam Hà không có yêu cầu, đề nghị gì đối với chi phí điều trị cho phạm nhân Nguyễn Thanh M tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam mà Trại giam Nam Hà đã chi trả.

Tại bản Cáo trạng số 50/CT-VKS-KV5 ngày 17/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố Đỗ Đình L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại các điểm d, đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Đỗ Đình L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng các điểm d, đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự - xử phạt bị cáo Đỗ Đình L từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù, tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành là 03 năm 11 tháng 07 ngày tù của Bản án số 300/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của Tòa án nhân dân quận HM, Thành phố Hà Nội, buộc bị cáo L phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (08/10/2025). Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 30 của Bộ luật Tố tụng hình sự - tách vấn đề dân sự ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

- Bị cáo Đỗ Đình L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Bị hại Nguyễn Thanh M yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe tổng số tiền là 100.000.000 đồng, bao gồm chi phí sau này sẽ chỉnh hình mũi đang bị lệch và chữa mắt phải do mắt vẫn đang bị mờ.

- Người làm chứng trình bày những tình tiết mà mình biết về vụ án như đã khai báo tại Cơ quan điều tra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc giải quyết vụ án; nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội danh: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, Đỗ Đình L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, lời khai của bị hại, người làm chứng, bản Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Đỗ Đình L là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”. Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 16/05/2025, tại xưởng lao động Đội 7, Phân trại 1, Trại giam Nam Hà, Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng (C10), Bộ Công an, thuộc địa bàn tổ dân phố Đồng Tân, phường Nguyễn Úy, tỉnh Ninh Bình, Đỗ Đình L cho song mây vào thùng nước trong nhà vệ sinh để ngâm, đã làm bắn nước vào người Nguyễn Thanh M đang ngồi vệ sinh bên cạnh, nên xảy ra mâu thuẫn. Sau đó, L dùng tay phải đấm 02 phát và dùng chân phải đạp 01 phát vào vùng mặt của M, làm M bị gẫy xương chính mũi và vách ngăn mũi, rách da trên cung lông mày phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11%.

Hành vi nêu trên của Đỗ Đình L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến sự ổn định, trật tự tại nơi giam giữ và gây tâm lý hoang mang cho các phạm nhân đang chấp hành án tại Trại giam Nam Hà. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã “Tái phạm nguy hiểm” và đang chấp hành án phạt tù lại cố ý gây thương tích cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%. Hội đồng xét xử kết luận: hành vi của Đỗ Đình L đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại các điểm d, đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: bị cáo có nhân thân rất xấu.

- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo đã nhiều lần bị kết án và đang phải chấp hành án phạt tù, nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, mà lại tiếp tục phạm tội. Qua đó, thể hiện sự coi thường pháp luật, không chịu cải tạo. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Tại bản án số 300/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của Tòa án nhân dân quận HM, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội) đã xử phạt Đỗ Đình L 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với 32 tháng tù của bản án số 294/2024/HSST ngày 17/10/2024 Tòa án nhân dân quận NTL, Thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án là 62 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/7/2024; bị cáo đang chấp hành bản án này. Tính đến ngày 08/10/2025 (ngày L bị bắt tạm giam về tội “Cố ý gây thương tích”), thì L đã chấp hành được 01 năm 02 tháng 23 ngày, phần hình phạt chưa chấp hành là 03 năm 11 tháng 07 ngày. Như vậy, bị cáo đang phải chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới; nên theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung.

Về trách nhiệm dân sự: Trại giam Nam Hà không yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị cho Nguyễn Thanh M tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam; nên Hội đồng xét xử không giải quyết. Bị hại Nguyễn Thanh M yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về sức khỏe với số tiền là 100.000.000 đồng, nhưng chưa có điều kiện chứng minh. Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự; căn cứ vào Điều 30 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tách vấn đề dân sự ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điểm d, đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự; Điều 30, khoản 2 Điều 136, Điều 292, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

1. Về hình sự: tuyên bố bị cáo Đỗ Đình L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt bị cáo Đỗ Đình L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án số 300/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của Tòa án nhân dân quận HM, Thành phố Hà Nội là 03 năm 11 tháng 07 ngày, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 07 (bẩy) năm 05 (năm) tháng 07 (bẩy) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (08/10/2025).

2. Án phí: bị cáo Đỗ Đình L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ