vanban.org

Bản án 23/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Thành L 03 (ba) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2025. Miễn áp dụng hình phạt bổ xung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NTL - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2- PHÚ THỌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2026/HS-ST
Ngày: 27/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Vinh;

2. Ông Trần Quang Huấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2

- Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Linh - Kiểm sát viên .

Ngày 27 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2025/HSST ngày 31/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2026/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:

Nguyễn Thành L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 10/02/1987; Nơi sinh: tỉnh Phú Thọ ; Nơi thường trú và chỗ ở: Khu C, xã Q, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Bố đẻ: Nguyễn Đức M, sinh năm 1960. Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1962. Vợ: Trần Thị Thu H sinh năm 1989. Con: Có 01 con sinh năm 2011.

- Tiền án: Ngày 25/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt 24 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ra trại ngày 18/10/2021. Nhưng đến thời điểm phạm tội bị cáo chưa chấp hành xong bồi thường dân sự.

- Tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/9/2025 đến ngày 24/9/2025 thì bị khởi tố và áp dụng biện pháp tạm giam, hiện đang bị tạm giam Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh P. Hôm nay có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn C, sinh năm 1981

Địa chỉ: Khu A, phường P, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Hồi 16 giờ 40 phút ngày 19 tháng 9 năm 2025, tại khu A phường P, tỉnh Phú Thọ. Tổ công tác của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh P phát hiện một nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành làm việc, người nam giới tự khai là Nguyễn Thành L, sinh năm 1987 ở tại khu C, xã Q, tỉnh Phú Thọ. L khai nhận đang cất dấu ma tuý “Methamphetamine” và tự nguyện giao nộp 01 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. L khai nhận chất rắn dạng tinh thể màu trắng đó là túi ma túy “Methamphetamine” ", đang cất giấu với mục đích ai hỏi mua thì bán. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản quả tang, niêm phong theo quy định của pháp luật. Ngoài ra tạm giữ của L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, số IMEI: 35588358240126 gắn sim thuê bao số 0916997787; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, số IMEI: 355250210136638 gắn sim thuê bao số 0395111290.

Cùng ngày, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh P khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thành L tại khu C, xã Q, tỉnh Phú Thọ quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thành L khai nhận: L thường xuyên sử dụng ma túy “Methamphetamine”, nên L nảy sinh ý định tìm mua “Methamphetamine”” về sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng hơn 6 giờ ngày 16 tháng 9 năm 2025, L đi xe khách từ nhà xuống khu vực Đền L thuộc phường H, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy “Methamphetamine”. Tại đây, L gặp một người đàn ông lái xe ôm (không xác định được họ tên, địa chỉ) khoảng 50 tuổi đi xe máy Dream, L không nhớ biển kiểm soát. L hỏi người này có ma túy “Methamphetamine” không bán cho L 1.000.000 đồng, người này nói có, đồng ý bán ma túy cho L và bảo L đưa tiền. L đã đưa cho người này 1.000.000 đồng, người đàn ông này cầm tiền và bảo L đứng đợi, người này bỏ đi khoảng 20 phút sau quay lại rồi đưa cho L một túi nilon màu trắng, bên trong có chứa chất rắn tinh thể màu trắng. L biết đó là ma tuý “Methamphetamine” nên đúc số ma tuý vừa mua được vào túi quần rồi ra bắt xe ôm và đi ra bến xe khách Mỹ Đ và bắt xe đi về nhà. Trên đường về, khoảng 9 giờ cùng ngày Nguyễn Văn C sinh năm 1981 nhà ở khu A, phường P, tỉnh Phú Thọ gọi điện cho L qua ứng dụng zalo, nick zalo của L là “Thành Luân”, nick zalo của C là “Nguyen Van C1” hỏi L có ma túy “Methamphetamine” không bán cho C 400.000 đồng do vừa mua được ma tuý “Methamphetamine” nên L đã đồng ý. Sau đó, L bảo C chuyển khoản vào tài khoản của L có số tài khoản là 0961997787 mở tại ngân hàng V1 thì C đã dùng tài khoản số 0972919981 của C mở tại ngân hàng V1 chuyển vào tài khoản của L 400.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, L đi về đến nhà rồi một mình L lấy túi ma tuý “Methamphetamine” vừa mua được ra tách một phần ma tuý “Methamphetamine” cho vào cóng thuỷ tinh và sử dụng cho bản thân. Sử dụng ma túy xong L đã vứt bỏ cóng thủy tinh đi (Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm chiếc cóng thuỷ tinh nhưng không thu giữ được). Phần ma túy “Methamphetamine” còn lại L chia thành hai phần nhỏ đúc trong 02 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm và cất vào túi quần L đang mặc. Đến khoảng hơn 19 giờ cùng ngày, L đi nhờ xe máy người qua đường từ nhà đi xuống phường P, đi đến gần nhà C, L gọi điện cho C qua ứng dụng zalo bảo C đi ra gần nhà C để lấy ma túy “Methamphetamine”. Sau đó, L đã đưa cho C 01 túi ma tuý “Methamphetamine” được đúc trong túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm. C cầm túi ma túi “Methamphetamine” Luân vừa đưa mang về nhà sử dụng hết. Túi ma túy đá còn lại, L vẫn cất giấu trong người, đến hồi 16 giờ 40 ngày 19 tháng 09 năm 2025, L đứng ở ven đường tại khu vực khu A, phường P, tỉnh Phú Thọ với mục đích để có ai hỏi mua ma túy “Methamphetamine” L sẽ bán thì bị tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an tỉnh P kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Thành L, Cơ quan điều tra đã triệu tập Nguyễn Văn C, C khai nhận hành vi mua ma tuý của Nguyễn Thành L vào ngày 16/9/2025. Lời khai của C phù hợp với lời khai của Nguyễn Thành L cùng các tại liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã quyết định trưng cầu giám định đối với toàn bộ chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong túi nilon màu trắng đã thu giữ của L. Tại bản Kết luận giám định số 2143/KL-KTHS ngày 24/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận:

Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng có khuy bấm bịt kín trong bì niêm phong gửi đến giám định là ma tuý có khối lượng là: 0,695 gam (Không phảy sáu chín năm gam); là ma túy; loại Methamphetamine.

* Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính Phủ.

Kết quả xét nghiệm nước tiểu xác định tình trạng sử dụng ma túy của Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn C ngày 19/9/2025 cho kết quả: Nguyễn Thành L và Nguyễn Văn C đều dương tính với chất ma túy.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho L: Quá trình điều tra, L khai chỉ biết người này khoảng 50 tuổi, còn tên tuổi địa chỉ người này cụ thể ra sao L không biết, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ.

Đối với chiếc điện thoại di động sử dụng nick zalo của C là “Nguyen Van Cuong” mà Nguyễn Văn C đã sử dụng để liên lạc mua ma túy với Nguyễn Thành L, quá trình điều tra xác định: Tối ngày 18/9/2025, trên đường đi chơi, C đã làm rơi mất chiếc điện thoại này, đến nay C không xác định được rơi ở khu vực, vị trí nào nên Cơ quan điều tra Công an tỉnh P không có căn cứ để thu giữ chiếc điện thoại của C để phục vụ việc điều tra, xử lý vật chứng của vụ án.

Đối với Nguyễn Thành L và Nguyễn Văn C có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy quá trình điều tra xác định L và C đều không trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế; không trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy; không trong thời gian 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy và thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định tại điều 256a Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã có công văn chuyển Công an tỉnh P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định.

Vật chứng, đồ vật tài sản bị tạm giữ trong vụ án:

01 túi niêm phong số 2143/KL-KTHS của Phòng K, Công an tỉnh P hoàn trả lại 0,572 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín.

01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, đã qua sử dụng, số IMEI: 355250210136638 kèm 01 thẻ sim số thuê bao 0395111290 trong máy

01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, đã qua sử dụng, số IMEI: 355883582401261 kèm 01 thẻ sim số thuê bao 0916997787 trong máy

Các vật chứng hiện được bảo quản theo quy định của pháp luật.

Về tài sản của bị cáo: Qua xác minh của Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Thành L không có tài sản riêng.

Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKSKV2 ngày 31/12/2025 của VKSND khu vực 2 - Phú Thọ đã truy tố Nguyễn Thành L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” . Áp dụng khoản 1 điều 251, điểm r, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt Nguyễn Thành L từ 39 đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2025. Miễn áp dụng hình phạt bổ xung. Áp dụng quy định của pháp luật để xử lý vật chứng.

Về án phí : Bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo L khi nói lời sau cùng thừa nhận đã phạm tội, đề nghị HĐXX áp dụng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo L không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của bị cáo thể hiện: Khoảng hơn 19 giờ 00 phút ngày 16/9/2025, tại ở khu A, phường P, Nguyễn Thành L đã có hành vi bán 01 túi ma tuý “Methamphetamine” được đúc trong túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm cho Nguyễn Văn C với giá 400.000 đồng (số ma túy này C đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng). Ngoài ra, L còn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm mục đích để bán cho người có nhu cầu với khối lượng 0,695 gam ma túy; loại Methamphetamine. Toàn bộ số ma tuý “Methamphetamine” nêu trên đều do Nguyễn Thành L có được trong cùng một lần mua duy nhất, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và vật chứng thu được của vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm...”

Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội. Ma túy là căn nguyên của nhiều tệ nạn xã hội, phá hoại hạnh phúc gia đình, làm gia tăng tình hình mất trật tự an toàn xã hội. Khi L thực hiện hành vi bán trái phép 01 gói ma túy heroin cho Nguyễn Văn C với giá 400.000đ và tàng trữ trái phép 0,695 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để bán, bị cáo hoàn toàn ý thức được hành vi đó là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý, sử dụng các chất ma tuý của Nhà nước. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận tàng trữ ma túy loại Methamphetamine để bán khi có đối tượng mua và đã bán trái phép chất ma túy loại Methamphetamine cho C vào ngày 16/9/2025. Như vậy, có đủ cơ sở và căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo L đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 Do đó vụ án cần phải được đưa ra xét xử kịp thời nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Xét về nhân thân bị cáo: Bị cáo L là người đã thành niên, có sức khỏe nhưng không tu dưỡng bản thân. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự thú hành vi mua bán trái phép chất ma túy với C, có ông nội là cụ Nguyễn Văn D đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS. Bị cáo có 01 tiền án, không có tiền sự nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự . Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã nêu, HĐXX cân nhắc thấy rằng cần thiết phải xử phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới đủ tác dụng để giáo dục bị cáo trở thành người có ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và cũng nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp cần chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung : Khoản 6 điều 251 BLHS quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo không có tài sản, là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 túi niêm phong số 2143/KL-KTHS của Phòng K, Công an tỉnh P hoàn trả lại 0,572 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín là tang vật còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, đã qua sử dụng, số IMEI: 355883582401261, cần tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 thẻ sim số thuê bao 0916997787 cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, đã qua sử dụng, số IMEI: 355250210136638 và 01 thẻ sim số thuê bao 0395111290 không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.

Đối với số tiền C trả tiền mua ma túy của L đã được C2 chuyển khoản trả L, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với người đàn ông không rõ tên, địa chỉ khoảng 50 tuổi, đã bán ma túy cho L vào ngày 16 tháng 9 năm 2025; Cơ quan điều tra không có cơ sở tiếp tục xác minh là phù hợp.

Đối với hành vi sử dụng trái phép của Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn C Công an tỉnh P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về chất ma túy là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 251, điểm r, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điểm h, khoản 1 điều 52, điều 38, khoản 1 điều 47, điều 48 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; Khoản 2 điều 106, khoản 2 điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Thành L 03 (ba) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2025.

Miễn áp dụng hình phạt bổ xung.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu để tiêu hủy 01 túi niêm phong số 2143/KL-KTHS của Phòng K, Công an tỉnh P hoàn trả lại 0,572 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín là tang vật còn lại sau giám định.

Tịch thu để tiêu hủy 01 thẻ sin số 0916997787 .

Tịch thu để bán nộp ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, đã qua sử dụng, số IMEI: 355883582401261.

Tịch thu của Nguyễn Thành L số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) nộp ngân sách nhà nước.

Trả lại cho bị cáo L 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, đã qua sử dụng, số IMEI: 355250210136638 và 01 thẻ sim số 0395111290.

(Các vật chứng trên hiện đang bị tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 , tỉnh Phú Thọ và có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng).

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ