vanban.org

Bản án 23/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 11 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 06/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Đoàn Vũ Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt: Xử phạt bị cáo Đoàn Vũ Kh 01 (một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/12/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Đoàn Vũ Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2026/HS-ST
Ngày: 06 – 03 – 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Minh Tiếp.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hứa Văn Soi

Bà Nguyễn Trường Hận

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Chúc – Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 03 năm 2026 tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2026/TLST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2026/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:

Đoàn Vũ Kh (tên gọi khác: không), sinh ngày: 08 tháng 05 năm 1997 tại V, thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: ấp 7B1, xã V, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn V và bà Nguyễn Thị Th. Bị cáo chưa có vợ, con. Anh (chị) em ruột có 02 người (lớn nhất sinh năm: 1995, nhỏ nhất bị cáo).

Tiền án: Không

Tiền sự: Có 02

- Ngày 08/09/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang (cũ) đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng (đã chấp hành xong).

- Ngày 29/5/2025 bị Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang (cũ) đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1, thành phố Cần Thơ (chưa chấp hành xong đang bị tạm đình chỉ thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc).

Nhân thân: không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/12/2025 cho đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3 Công an thành phố Cần Thơ. Bị cáo tạm giam có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Nguyễn Quốc Th, sinh năm: 1974

Địa chỉ: ấp 7B1, xã V, thành phố Cần Thơ (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đoàn Văn V, sinh năm: 1967; Cư trú: ấp 7B1, xã V, thành phố Cần Thơ (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ ngày 29/03/2025, ông Nguyễn Quốc Th, phát hiện trong vườn nhà mình bị mất trộm 09 (chín) cây mai vàng, mỗi cây có tuổi thọ trung bình là 10 (mười) năm, có đường kính mỗi cây từ 7-8cm, chiều cao mỗi cây khoảng 70-150cm.

Quá trình điều tra đã xác định Đoàn Vũ Kh là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:

Vào ngày 25/03/2025 Khánh có đi thả lưới dưới kênh Xáng Xà No, khi đi đến bờ kè nhà của ông Bảo (là cha ruột của Nguyễn Quốc Th) thì Kh thấy có trồng nhiều cây mai vàng cặp bờ kè nên Kh có ý định nhổ về nhà mình để trồng. Đến khoảng 21 giờ ngày 25/03/2025, Kh lội dưới sông cặp bờ kè và Kh đem theo xẻng, cưa đến vườn mai nhà ông B, thấy không có ai nên Kh lên vườn mai dùng xẻng đào 04 cây mai, xong Kh đem xuống kênh Xáng Xà No dùng cửa để cưa bỏ phần ngọn để lại phần gốc, sau đó Kh đem về trồng trước của nhà mình. Đến khoảng 22 giờ ngày 27/03/2025, Kh tiếp tục đến vườn nhà ông B và trộm 03 cây mai đem về nhà trồng giống như lần đầu. Lần tiếp theo khoảng 21 giờ ngày 28/03/2025, Kh tiếp tục đến vườn nhà ông B và trộm 02 cây mai đem về nhà để trồng. Tổng cộng Kh trộm mai nhà ông B được 03 lần tổng cộng 09 cây mai. Sau khi trộm xong thì Kh định đem bán lấy tiền tiêu xài nhưng không ai mua, nên Kh đem mai về trồng trước cửa nhà của mình cặp kênh Xáng Xà No. Sau đó, Kh được Công an mời về làm việc và đã thừa nhận hành vi của mình như đã nêu trên (Bút lục 14 đến 17; 92 đến 97; 129 đến 130).

* Vật chứng thu giữ:

- Cây mai vàng ký hiệu số 01 chiều cao 45cm, đường kính 9cm;

- Cây mai vàng ký hiệu số 02 chiều cao 60cm, đường kính 15cm;

- Cây mai vàng ký hiệu số 03 chiều cao 37cm, đường kính 16cm;

- Cây mai vàng ký hiệu số 04 chiều cao 45cm, đường kính 11cm;

- Cây mai vàng ký hiệu số 05 chiều cao 90cm, đường kính 11cm;

- Cây mai vàng ký hiệu số 06 chiều cao 60cm, đường kính 11cm;

- Cây mai vàng ký hiệu số 07 chiều cao 120cm, đường kính 23cm;

- Cây mai vàng ký hiệu số 08 chiều cao 43cm, đường kính 12cm;

- Cây mai vàng ký hiệu số 09 chiều cao 40cm, đường kính 11cm.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐ.ĐGTS ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Hội đồng định giá tài trong tố tụng hình sự huyện Vị Thủy (cũ) kết luận:

- Cây mai vàng ký hiệu số 01 chiều cao 45cm, đường kính 9cm, có giá trị là: 120.000 đồng

- Cây mai vàng ký hiệu số 02 chiều cao 60cm, đường kính 15cm, có giá trị là: 600.000 đồng

- Cây mai vàng ký hiệu số 03 chiều cao 37cm, đường kính 16cm, có giá trị là: 900.000 đồng

- Cây mai vàng ký hiệu số 04 chiều cao 45cm, đường kính 11cm, có giá trị là: 600.000 đồng

- Cây mai vàng ký hiệu số 05 chiều cao 90cm, đường kính 11cm, có giá trị là: 600.000 đồng

- Cây mai vàng ký hiệu số 06 chiều cao 60cm, đường kính 11cm, có giá trị là: 600.000 đồng

- Cây mai vàng ký hiệu số 07 chiều cao 120cm, đường kính 23cm, có giá trị là: 900.000 đồng

- Cây mai vàng ký hiệu số 08 chiều cao 43cm, đường kính 12cm, có giá trị là: 600.000 đồng

- Cây mai vàng ký hiệu số 09 chiều cao 40cm, đường kính 11cm, có giá trị là: 600.000 đồng

Căn cứ vào kết luận định giá tài sản số 11 ngày 25/5/2025, đã xác định được vào ngày 25/3/2025 Kh trộm 04 cây mai (đánh số từ 01 đến 04) có giá trị là 2.220.000 đồng; ngày 27/3/2025 trộm 03 cây mai (đánh số từ 05 đến 07) có giá trị là 2.100.000 đồng; ngày 28/3/2025 Kh trộm thêm 02 cây mai (đánh số từ 08 đến 09) có giá trị 1.200.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là: 5.520.000 đồng (Năm triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng).

Xử lý vật chứng trong vụ án: Vật chứng nêu trên được nhập kho vật chứng Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 để bảo quản và xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Nguyễn Quốc Th yêu cầu Đoàn Vũ Kh bồi thường 09 cây mai vàng, với số tiền 3.600.000 đồng (Bút lục 96).

Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKS-KV11 ngày 26/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ đã truy tố bị cáo Đoàn Vũ Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Vũ Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Vũ Kh mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/12/2025.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bồi thường số tiền 3.600.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ vật chứng của vụ án.

Tại phiên toà bị hại yêu cầu bồi thường đúng số tiền theo kết luận định giá tài sản.

Ý kiến bị cáo tại phiên toà nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa hôm nay có đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo Đoàn Vũ Kh đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp 09 cây mai vàng của ông Nguyễn Quốc Th được trồng tại ấp 7B1, xã V, thành phố Cần Thơ vào các ngày cụ thể: Lần thứ nhất: Vào ngày 25/3/2025 trộm 04 cây mai vàng có giá trị là 2.220.000 đồng (Hai triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng); Lần thứ hai: Vào ngày 27/3/2025 trộm 03 cây mai vàng có giá trị là 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm nghìn đồng); Lần thứ ba: Vào ngày 28/3/2025 trộm 02 cây mai vàng có giá trị 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản theo kết quả định giá là 5.520.000 đồng (Năm triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng). Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, thì: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 2.000.000đ nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…” Như vậy căn cứ vào quy định trên kết hợp với định lượng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt thì bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Từ đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hành vi nguy hiểm cho xã hội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đã thành niên có đủ sức khỏe để tự lao động lo cho gia đình và chính bản thân của bị cáo, nhưng vì bản chất lười biếng, thích ăn chơi nhưng không chịu lao động chân chính mà bất chấp lén lút trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật (lỗi cố ý). Do đó buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải đây được xem là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về áp dụng hình phạt chính và mức hình phạt: Như nhận định ở phần trên về hành vi nguy hiểm cho xã hội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự kết hợp với nhân thân của bị cáo nên mức án áp dụng cho bị cáo là tù có thời hạn và tương xứng.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường đúng số tiền theo kết luận định giá tài sản (đây được xem là không vượt quá yêu cầu về phần dân sự), bị cáo không có ý kiến đề nghị Toà án xử theo quy định. Xét thấy yêu cầu của bị hại là đúng pháp luật về dân sự nên Toà án buộc bị cáo bồi thường khắc phục hậu quả đúng số tiền theo kết luận định giá là 5.520.000 đồng được quy định tại các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự và Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu huỷ vật chứng của vụ án gồm 09 (chín) cây mai hiện tại đã chết khô, héo do không còn sử dụng được.

Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát hoàn toàn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự được quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Đoàn Vũ Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025).

Xử phạt bị cáo Đoàn Vũ Kh 01 (một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/12/2025.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đoàn Vũ Kh có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Nguyễn Quốc Th số tiền 5.520.000 đồng (Năm triệu năm trăm hai mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ vật chứng có liên quan đến vụ án gồm:

- Cây mai vàng ký hiệu số 01 chiều cao 45cm, đường kính 9cm;

- Cây mai vàng ký hiệu số 02 chiều cao 60cm, đường kính 15cm;

- Cây mai vàng ký hiệu số 03 chiều cao 37cm, đường kính 16cm;

- Cây mai vàng ký hiệu số 04 chiều cao 45cm, đường kính 11cm;

- Cây mai vàng ký hiệu số 05 chiều cao 90cm, đường kính 11cm;

- Cây mai vàng ký hiệu số 06 chiều cao 60cm, đường kính 11cm;

- Cây mai vàng ký hiệu số 07 chiều cao 120cm, đường kính 23cm;

- Cây mai vàng ký hiệu số 08 chiều cao 43cm, đường kính 12cm;

- Cây mai vàng ký hiệu số 09 chiều cao 40cm, đường kính 11cm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cần Thơ với Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 – Cần Thơ ngày 05/3/2026).

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Đoàn Vũ Kh phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/3/2026).

Cỡ chữ