vanban.org

Bản án 23/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình (Hạnh - Quan)"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8-ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 25 – 02 – 2026
V/v tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Văn Bình;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Thị Mỹ Lợi

2. Ông Nguyễn Phi Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Ngọc Thanh Vy - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8-Đồng Tháp.

Vào ngày 25 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8-Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2026/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2026 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc H, sinh ngày 11/6/1989 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số 51/42 đường Ngã Am, tổ 19, khóm Tân Bình, phường Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn: Anh Nguyễn Hải Q, sinh ngày 05/02/1988 (Vắng mặt).

Địa chỉ thường trú: Số 51/42 đường Ngã Am, tổ 19, khóm Tân Bình, phường Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

Địa chỉ hiện tại: Số 441-8073 thành phố Toyohashi Osaki-Cho Nami-iremuko 38-APII 101 (Nhật Bản).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc H trình bày: Vào năm 2015 chị H và anh Q quen biết nhau, sau thời gian tìm hiểu thì cả hai tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được ủy ban nhân dân xã Long Sơn, huyện Cần Đước, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/8/2015. Sau khi về sống chung, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2023 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, thời gian kéo dài làm mâu thuẫn trầm trọng hơn. Dù cả hai cố gắng khắc phục nhưng không hòa hợp được nên anh Q đi xuất khẩu lao động và đang sinh sống tại Nhật, còn chị H thì ở Việt Nam nuôi cháu Băng. Sau thời gian suy nghĩ, chị Lê Thị Ngọc H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hải Q.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống thì chị H và anh Q có 01 con chung là Nguyễn Hải Băng, sinh ngày 22/7/2015 hiện đang sống chung với chị H. Khi ly hôn chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không có không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn Nguyễn Hải Q có đơn xin vắng mặt nhưng theo bản tự khai ngày 28/01/2026 anh Q trình bày:

Anh Q và chị H quen biết nhau, sau thời gian tìm hiểu thì cả hai tiến đến hôn nhân, có đám cưới, có đăng ký kết hôn và được ủy ban nhân dân xã Long Sơn, huyện Cần Đước, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/8/2015. Sau thời gian chung sống hạnh phúc thì cuộc sống chung của vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, thời gian kéo dài làm mâu thuẫn trầm trọng hơn. Dù cả hai cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không hòa hợp được. Hiện anh Q đi xuất khẩu lao động và đang sinh sống tại Nhật, còn chị H thì ở Việt Nam nuôi cháu Băng, cả hai không ai quan tâm đến ai. Do đó nay anh Nguyễn Hải Q cũng đồng ý ly hôn với chị Lê Thị Ngọc H.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống thì anh Q và chị H có 01 con chung là Nguyễn Hải Băng, sinh ngày 22/7/2015 hiện đang sống chung với chị H tại địa chỉ số 51/42 đường Ngã Am, tổ 19, khóm Tân Bình, phường Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Khi ly hôn anh Q đồng ý để chị H được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và anh Q sẽ thỏa thuận riêng với chị H về cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không có không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Theo đơn khởi kiện chị Lê Thị Ngọc H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Hải Q. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ dân sự, tranh chấp hôn nhân gia đình theo Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Hải Q đăng ký thường trú: Số 51/42 đường Ngã Am, tổ 19, khóm Tân Bình, phường Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp nên theo Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân Khu vực 8-Đồng Tháp có thẩm quyền giải quyết.

Nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc H và bị đơn anh Nguyễn Hải Q có đơn xin vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Ngọc H, Hội đồng xét thấy như sau:

Qua lời khai của chị H và anh Q đã xác định: Vào năm 2015 chị H và anh Q quen biết nhau, sau thời gian tìm hiểu thì cả hai tiến đến hôn nhân, có đám cưới, có đăng ký kết hôn và được ủy ban nhân dân xã Long Sơn, huyện Cần Đước, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/8/2015 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau thời gian chung sống hạnh phúc thì đến khoảng đầu năm 2023 chị H và anh Q phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, thời gian kéo dài làm mâu thuẫn trầm trọng hơn. Cả hai cố gắng tìm cách khắc phục nhưng không hòa hợp được nên anh Q đi xuất khẩu lao động và đang sinh sống tại Nhật, còn chị H thì ở Việt Nam nuôi cháu Băng.

Đã qua một thời gian không ở chung nhưng chị H và anh Q cũng không tìm được tiếng nói chung nên dẫn đến việc chị Lê Thị Ngọc H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hải Q còn anh Q cũng thống nhất ly hôn với chi Hạnh. Điều này cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Q đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được đủ cơ sở để cho ly hôn. Đồng thời cả 2 cũng thống nhất ly hôn, xét đây là sự tự nguyện của các đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét về con chung, tài sản chung và nợ chung:

- Về con chung: Chị H và anh Q xác định có 01 con chung là Nguyễn Hải Băng, sinh ngày 22/7/2015 hiện đang sống chung với chị H. Khi ly hôn chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Băng, còn anh Q đồng ý để chị H được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Đồng thời theo văn bản ý kiến ngày 26/01/2026 thì cháu Băng yêu cầu được ở chung với mẹ vì cháu hiện đang có cuộc sống ổn định.

Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện của các đương sự nên để chị H tiếp tục nuôi dưỡng cháu Băng nhằm đảm bảo cho cháu có cuộc sống ổn định và phát triển tốt.

Đối với việc cấp dưỡng: Do chị H không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung: Chị Lê Thị Ngọc H và anh Nguyễn Hải Q xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Chị Lê Thị Ngọc H và anh Nguyễn Hải Q xác định không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Ngọc H. Cho chị Lê Thị Ngọc H được ly hôn với anh Nguyễn Hải Q.

2. Về con chung: Chị Lê Thị Ngọc H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hải Băng, sinh ngày 22/7/2015 sau khi ly hôn (hiện cháu Băng đang sống chung với chị H). Anh Nguyễn Hải Q có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị H không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung: Chị Lê Thị Ngọc H và anh Nguyễn Hải Q xác định không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: Chị Lê Thị Ngọc H và anh Nguyễn Hải Q xác định không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0012049 ngày 31/12/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ