vanban.org

Bản án 23/2026/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị T. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Hà Thị T và anh Hà Văn L là vợ chồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Hà Thị T - Hà Văn L"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2026/HNGĐ-ST
Ngày 05-5-2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
của nam nữ chung sống với nhau như
vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Quàng Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Thơm;

Bà Lương Thị Diệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lò Văn Sơm – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 5 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 56/2026/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 01 năm 2026 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2026/QĐXXST - HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự.

1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị T, sinh năm: 1990; Địa chỉ: Bản M, xã K, tỉnh Lai Châu; (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Hà Văn L, sinh năm: 1986; Địa chỉ: Bản M, xã K, tỉnh Lai Châu; (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 01 năm 2026 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Hà Thị T trình bày.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị T và anh Hà Văn L sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2009 và đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã K, tỉnh Lai Châu. Do thiếu hiểu biết pháp luật nên chị T và anh L không đăng ký kết hôn theo quy định. Anh chị sống chung đến năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh L hay uống rượu và ghen tuông vô cớ, thường xuyên chửi mắng, xúc phạm chị T, thậm chí anh chị có xảy ra xô xát dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, mâu thuẫn gia đình trở nên trầm trọng. Từ tháng 09/2025 đến nay chị T và anh L không còn chung sống như vợ chồng. Chị Hà Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, không công nhận chị Hà Thị T và anh Hà Văn L là vợ chồng và giải quyết việc nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống như vợ chồng chị Hà Thị T và anh Hà Văn L có hai con chung chưa thành niên là cháu Hà Thị L1, sinh ngày 28/8/2009 và cháu Hà Long G, sinh ngày 27/6/2011. Ly hôn, chị T có yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Chị Hà Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, tại các biên bản lấy lời khai anh Hà Văn L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Văn L khẳng định về thời điểm sống chung và không có đăng ký kết hôn như chị T trình bày là đúng. Anh chị sống chung hạnh phúc đến khoảng tháng 9/2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị T đi làm thuê và có mối quan hệ ngoại tình với người khác nên vợ chồng thường xuyên cãi cọ và đã sống ly thân từ tháng 09/2026 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn anh Hà Văn L nhất trí với yêu cầu của chị T đề nghị Toà án không công nhận anh chị là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Anh Hà Văn L công nhận anh và chị T có hai con chung như chị T trình bày là đúng. Ly hôn, anh Hà Văn L có yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hà Long G, đề nghị Toà án giao cháu Hà Thị L1 cho chị Hà Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Hà Văn L không yêu cầu Toà án giải quyết cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Anh Hà Văn L không yêu cầu Toà án giải quyết.

Toà án nhân dân khu vực 2 – Lai Châu thụ lý vụ án và xác minh tại Ủy ban nhân dân xã K, tỉnh Lai Châu xác định: Chị T, anh L sống chung như vợ chồng từ năm 2008 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định, hiện đang sinh sống và đăng ký thường trú tại bản Mỳ, xã K, tỉnh Lai Châu do anh Hà Văn L là chủ hộ. Anh Hà Văn L, chị Hà Thị T đều có nghề nghiệp là lao động tự do, mức thu nhập trung bình của anh L là 10.000.000 đồng/tháng, chị T là 7.000.000 đồng/tháng nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh thu nhập. Chị T và anh L có hai con chung chưa thành niên là cháu Hà Thị L1, sinh ngày 28/8/2009 và cháu Hà Long G, sinh ngày 27/6/2011. Do các đương sự không thỏa thuận được việc nuôi con chưa thành niên nên Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, lập biên bản hòa giải về tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Tại phiên hoà giải chị Hà Thị T và anh Hà Văn L thoả thuận việc nuôi con khi ly hôn yêu cầu Toà án ghi nhận: chị Hà Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên là cháu Hà Thị L1, anh Hà Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên là cháu Hà Long G. Anh chị không yêu cầu nhau cấp dưỡng nuôi con chung và không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà, chị Hà Thị T và anh Hà Văn L vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt: Chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn, yêu cầu Tòa án không công nhận chị T và anh L là vợ chồng, anh Hà Văn L đồng ý ly hôn với chị T. Các đương sự giữ nguyên thoả thuận về nuôi con: chị Hà Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Thị L1, anh Hà Văn L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Long G, anh chị không yêu cầu nhau cấp dưỡng nuôi con chung và không yêu cầu toà án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung chị T và anh L không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lai Châu tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử. Về phía các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 11, Điều 87 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1,7 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Các Điều 143, 147, Điều 227, 228, 238, 244, 266, 267, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 2, Điều 1 Luật số 85 /2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án. Điều 39 Bộ luật dân sự; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị T. Không công nhận chị Hà Thị T và anh Hà Văn L là vợ chồng.

- Về nuôi con chung: Ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự: Giao cho chị Hà Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên là cháu Hà Thị L1, sinh ngày 28/8/2009; Giao cho anh Hà Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên là cháu cháu Hà Long G, sinh ngày 27/6/2011 từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi), không mất năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Do các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hà Thị T xác định đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con của nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký hết hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1, 7 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn là anh Hà Văn L có hộ khẩu thường trú tại bản Mỳ, xã K, tỉnh Lai Châu. Căn cứ Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2, Điều 1 Luật số 85 /2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu.

Về thủ tục tố tụng: Ngày 05/5/2026, Tòa án mở phiên tòa, chị Hà Thị T và anh Hà Văn L vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự là chị Hà Thị T, anh Hà Văn L.

. Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ vào lời khai của các đương sự, công văn trả lời số 273/UBND-VP ngày 06/3/2026 của Ủy ban nhân dân xã K, tỉnh Lai Châu và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, xác định:

Chị Hà Thị T và anh Hà Văn L sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2009 nhưng do thiếu hiểu biết pháp luật cùng với phong tục tập quán hôn nhân gia đình lạc hậu nên anh chị vẫn tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Từ thời điểm đó đến nay anh chị vẫn không tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn. Qua xác minh, kiểm tra sổ sách về việc đăng ký kết hôn của Ủy ban nhân dân xã K, tỉnh Lai Châu tại thời điểm anh L, chị T sống chung không có thông tin đăng ký kết hôn của anh chị. Việc chị Hà Thị T và anh Hà Văn L sống chung như vợ chồng từ năm 2009 mà không đăng ký kết hôn là không hợp pháp và không được pháp luật thừa nhận, vi phạm khoản 1 Điều 11, Điều 87 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, đến thời điểm hiện tại anh chị vẫn không tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Mặt khác, trong thời gian chung sống anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, các đương sự đưa ra nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do không hợp tính tình và ngoại tình nhưng không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh và thực tế anh chị đã không còn sống chung từ tháng 09/2025 đến nay. Do đó, chị T có yêu cầu giải quyết ly hôn, yêu cầu Tòa án không công nhận chị T và anh L là vợ chồng nên Hội đồng xét xử cần căn cứ khoản 1 Điều 11, Điều 87 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; khoản 1 Điều 9, Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b, c Khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 về thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để tuyên bố không công nhận chị Hà Thị T và anh Hà Văn L là vợ chồng.

. Về nuôi con chung: Căn cứ giấy khai sinh số 269 ngày 18/10/2010 và số 543 ngày 14/11/2011 của Ủy ban nhân dân xã K cấp xác định:

Trong thời gian chung sống như vợ chồng chị Hà Thị T và anh Hà Văn L có hai con chung là cháu Hà Thị L1, sinh ngày 28/8/2009 và cháu Hà Long G, sinh ngày 27/6/2011. Xét về điều kiện, Anh Hà Văn L và chị Hà Thị T đều có nơi cư trú rõ ràng, có nhà ở ổn định; Anh Hà Văn L, chị Hà Thị T đều có nghề nghiệp là lao động tự do, mức thu nhập trung bình của anh L là 10.000.000 đồng/tháng, chị T là 7.000.000 đồng/tháng, có các điều kiện như nhau để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con.

Tại thời điểm giải quyết vụ án xác định cháu Hà Thị L1, và cháu Hà Long G đã trên 07 tuổi, căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành hỏi ý kiến con chung chưa thành niên. Ý kiến cháu L1 muốn sống cùng với mẹ là chị Hà Thị T, cháu G muốn sống cùng bố là anh Hà Văn L. Tại phiên hoà giải và trong đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà chị T và anh L đã thoả thuận được việc nuôi con chung sau khi ly hôn. Xét thấy thoả thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội, đảm bảo quyền lợi và phù hợp với ý kiến của con chung chưa thành niên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận:

Giao cho chị Hà Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên là cháu Hà Thị L1, sinh ngày 28/8/2009; Giao cho anh Hà Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên là cháu cháu Hà Long G, sinh ngày 27/6/2011 từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi), không mất năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hà Thị T và anh Hà Văn L không yêu cầu nhau cấp dưỡng nuôi con chung và không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là chị Hà Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Chị Hà Thị T và anh Hà Văn L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Chấp nhận toàn bộ ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên về quan điểm giải quyết nội dung vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 11, Điều 87 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

- Điều 9, Điều 14, Điều 15, Khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 39 của Bộ luật dân sự;

- Khoản 1,7 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Các Điều 143, 147, Điều 227, 228, 238, 244, 266, 267, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Khoản 2, Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án.

- Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị T.

2. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Hà Thị T và anh Hà Văn L là vợ chồng.

3. Về nuôi con chung: Công nhận sự thoả thuận của các đương sự: Giao cho chị Hà Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên là cháu cháu Hà Thị L1, sinh ngày 28/8/2009; Giao cho anh Hà Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên là cháu cháu Hà Long G, sinh ngày 27/6/2011 từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi), không mất năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con theo Quyết định của Tòa án. Các đương sự có quyền yêu cầu nhau cùng các thành viên trong gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Anh Hà Văn L, chị Hà Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hà Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Xác nhận chị Hà Thị T đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0000044 ngày 27/01/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu nay chuyển thành án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ