vanban.org

Bản án 23/2025/HSST — Hình sự

TAND Q. Thốt Nốt, TP. Cần Thơ Tuyên án 28/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QU N TH T N T
THÀNH PH CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23 /2025/HSST
Ngày: 28 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QU N TH T N T - THÀNH PH CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn D n

2. B Thái Ánh Trinh

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhàn –Thư ký Toà án nhân dân qu n

Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân qu n Th t N t - thành ph Cần Thơ

tham gia phiên toà: Ông H ng Qu c Vệ - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại tr s T a án nh n d n qu n Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ ti n h nh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 12/2025/HSST ngày 28 tháng 02 năm 2025, theo Quy t định đưa v án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ v tên: Bùi Duy T; Sinh năm 1986; Giới tính: Nam; Nơi cư tr : Khu vực Q, phường T, qu n T, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Ph t; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: L m thuê; Họ tên cha: Bùi Thành T1, sinh năm 1958 (sống); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L, (ch t).

- Tiền án: 02 lần

+ Ng y 25/4/2014, bị T a án nh n d n qu n Thốt Nốt xử phạt 01 năm 03 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ng y 04/04/2015.

+ Ng y 28/9/2016, bị T a án nh n d n qu n Thốt Nốt xử phạt 08 năm 06 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ng y 31/8/2023.

- Tiền sự: Chưa.

- Bị tạm giữ, tạm giam từ ng y 19/11/2024 đ n nay tại Nhà tạm giữ - Công an qu n T (nay l P trại tạm giam T – Công an thành phố C). Có m t.

Người có quy n l i, nghĩa v liên quan:

Tô Thị Vân A – sinh năm 1986

Cư tr : Khu vực P, P. T, Q. T, Tp ..

Người làm ch ng:

Lê Thị C – sinh năm 1989. ắng m t

Cư tr : Khu vực T, P. T, Q. T, Tp ..

Mai Văn N – sinh năm 1990. ắng m t

Cư tr : Khu vực Q, P. T, Q. T, Tp ..

NỘI DUNG V ÁN:

Qua các tài li u có trong h s v án và quá trình xét h i, tranh lu n tại phiên tòa, nội dung v án đư c tóm t t như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 19/11/2024, do cần ma t y để sử d ng nên Bùi Duy T điều khiển xe môtô biển kiểm soát 65P9-6437 từ nhà thuộc khu vực Q, phường T, qu n T đ n khu ch m mã thuộc khu vực L, phường T, qu n T, th nh phố Cần Thơ g p người thanh niên tên T2 (chưa rõ họ tên, địa ch ), để hỏi mua ma túy về sử d ng với số tiền 300.000 đồng. T đưa T2 300.000 đồng, T2 nói với T đi đ n lấy 01 hộp nhựa hình chữ nh t có dán keo m u đen cách chỗ T2 đứng khoảng 03m. T đ n lấy và m hộp nhựa ra xem thấy bên trong có 01 (một) gói nilon không màu nẹp miệng có viền m u đỏ bên trong có chứa tinh thể rắn không màu và 01 (một) gói nilon không màu nẹp miệng có viền m u đỏ bên trong có chứa 03 gói nilon hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn không màu. Sau khi nh n hộp nhựa có chứa ma túy, T cất giấu trong áo khoác v điều khiển xe môtô biển kiểm soát 65P9-6437 rước bạn gái tên Lê Thị C để vào quán K thuộc khu vực L, phường T, qu n T, thành phố Cần Thơ để hát karaoke. T đưa áo khoác C cầm dùm nhưng không có nói với C là bên trong có ma t y. Sau đó, T điều khiển xe môtô biển kiểm soát 65P9-6437 ch C đ n quán K, trên đường đi thì g p lực lượng Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an qu n T k t hợp Công an phường T tuần tra yêu cầu kiểm tra, C bước xuống xe làm rớt áo khoác văng hộp nhựa cùng 02 gói nilon chứa ma t y ra ngo i. Cơ quan điều tra thu giữ tang v t:

- 01 (một) gói nilon không màu nẹp miệng có viền đỏ, bên trong có chứa tinh thể không màu thu giữ dưới đất cách chỗ T và C đứng 1m (ký hiệu M1);

- 01 (một) gói nilon không màu nẹp miệng viền đỏ, đựng 03 (ba) gói nilon không m u, h n kín, đều chứa tinh thể không màu thu giữ dưới đất cách chỗ Bùi Duy T và Lê Thị C đứng 1m (ký hiệu M2);

- 01 (một) điện thoại di động Iphone; 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 65P9-6437; 01 (một) hộp nhựa hình chữ nh t có dán keo m u đen; 01 (một) áo khoác màu xanh.

Tại K t lu n giám định số 388/KL-KTHS ngày 22/11/2024 tại Phòng K1 - Công an th nh phố C, k t lu n:

+ Mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine khối lượng 1,0779 gam.

+ Mẫu ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine khối lượng 0,4127 gam.

Tổng khối lượng ma túy là 1,4906 gam.

Về v t chứng: Cơ quan điều tra đã nh p kho v t chứng theo quy định.

Tại Cáo trạng số 20/CT-VKS ng y 24/02/2025, iện kiểm sát nh n d n qu n Thốt Nốt – th nh phố Cần Thơ, truy tố Bùi Duy T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên t a, bị cáo thừa nh n to n bộ h nh vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị:

- V trách nhi m hình sự: Áp d ng: điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

+ Xử phạt bị cáo Bùi Duy T từ 08 (tám) năm đ n 09 (chín) năm tù.

+ Hình phạt bổ sung: Không áp d ng.

- V x lý v t ch ng:

+Tịch thu tiêu huỷ 01 gói được niêm phong Số 388/KL-KTHS ngày 22/22/2024 có đóng dấu của Phòng K1 - Công an th nh phố C, bên trong chứa chất ma tuý; 01 hộp nhựa hình chữ nh t; 01 áo khoát m u xanh.

+Trả lại bị cáo Bùi Duy T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone m u xám, vỏ ngo i có nhiều v ty trầy xước, do bị cáo không sử d ng v o việc phạm tội.

+Đối với 01 xe mô tô biển số 65 9-6437 hiện chưa xác định được chủ s hữu, nên đề nghị giao cơ quan có thẩm quyền quản lý đăng thông báo tìm chủ s hữu, n u h t thời hạn đăng thông báo m không có người liên hệ nh n lại xe thì xử lý theo quy định.

Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NH N Đ NH CỦA HỘI Đ NG X T X :

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ v án đã được thẩm tra, x t hỏi, tranh lu n tại phiên t a, Hội đồng x t xử nh n thấy như sau:

[1] ề h nh vi, quy t định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an qu n T, Điều tra viên, iện kiểm sát nh n d n qu n Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự thủ t c quy định của Bộ lu t Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên t a không có người n o khi u nại về h nh vi, quy t định của Cơ quan ti n h nh tố t ng, người ti n h nh tố t ng. Do đó, các h nh vi, quy t định tố t ng của Cơ quan ti n h nh tố t ng, người ti n h nh tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong điều tra v tại phiên t a, bị cáo đã thừa nh n h nh vi phạm tội, lời nh n tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thu th p trong quá trình điều tra.

Như v y, có cơ s xác định vào ngày 19/11/2024, Bùi Duy T có h nh vi cất giấu ma t y trong áo khoác mang theo nhằm m c đích để sử d ng thì bị lực lượng chức năng khám x t, thu giữ. Theo K t lu n giám định số 388/KL-KTHS ngày 22/11/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố C, k t lu n: Mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine khối lượng 1,0779 gam; Mẫu ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine khối lượng 0,4127 gam; tổng khối lượng ma túy l 1,4906 gam. H nh vi m bị cáo thực hiện đã trực ti p x m phạm đ n chính sách độc quyền quản lý của Nh nước về chất ma túy. Bị cáo l người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện h nh vi với lỗi cố ý trực ti p. Bản th n bị cáo từng có 02 tiền án chưa được xóa án tích, l trường hợp tái phạm chưa được xóa án tích m lại ti p t c phạm tội do cố ý, nên l tái phạm nguy hiểm. Do đó, việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tàng trừ trái phép chất ma túy”, theo quy đi nh tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 l đ ng người, đ ng tội.

[3] X t thấy, tình hình tội phạm về ma tuý ng y c ng diễn bi n phức tạp, đối tượng phạm tội và sử d ng ma tuý phổ bi n nhiều th nh phần, độ tuổi. H u quả từ việc sử d ng trái ph p chất ma tuý g y ra l rất nguy hiểm đối với xã hội, không những có tác hại đ n sức khoẻ, người nghiện ma tuý c n dễ l m v o ảo giác, l m nhiều h nh động nguy hiểm cho người khác. Bản th n các bị cáo nh n được vấn đề này, đã từng bị xử phạt tù về h nh vi mua bán trái ph p chất ma t y nhưng vẫn cố ý t ng trữ ma t y để sử d ng bất chấp pháp lu t ngăn cấm và xử lý. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm minh để răn đe, giáo d c bị cáo v ph ng ngừa chung trong xã hội. Khi lượng hình, x t thấy bị cáo có sự th nh khẩn trong khai báo, nên xem x t giảm nhẹ một phần hình phạt.

[4] ề hình phạt bổ sung: Không cần thi t áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] ề xử lý v t chứng: Như Kiểm sát viên nh n định và đề nghị trên đ y là phù hợp, nên chấp nh n.

[6] Đối với người thanh niên tên T2 m bị cáo khai có hành vi bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được nhân thân c thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra ti p t c xác minh l m rõ, n u có cơ s s xử lý sau.

Đối với Lê Thị C do không bi t Bùi Duy T cất giấu ma túy trong áo khoác mà T nhờ C cầm dùm, nên không xem x t xử lý trách nhiệm hình sự. [7] ề án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định pháp lu t.

Vì các l trên, Hội đồng xét xử;

QUYẾT Đ NH:

Tuyên b : Bị cáo Bùi Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Áp d ng: điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

+ Xử phạt bị cáo Bùi Duy T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ng y 19/11/2024.

+ Hình phạt bổ sung: Không áp d ng.

2. Về xử lý v t ch ng: Áp d ng Điều 47; 48 của Bộ lu t Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự năm 2015.

+Tịch thu tiêu huỷ 01 gói được niêm phong Số 388/KL-KTHS ngày 22/22/2024 có đóng dấu của Phòng K1 - Công an th nh phố C, bên trong chứa chất ma tuý; 01 hô p nhựa hình chữ nh t; 01 áo khoát m u xanh.

+Trả lại bị cáo Bùi Duy T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone m u xám, vỏ ngo i có nhiều v t trầy xước.

+Đối với 01 xe mô tô biển số 65 9-6437 hiện chưa xác định được chủ s hữu, giao cơ quan có thẩm quyền quản lý đăng thông báo tìm chủ s hữu, n u h t thời hạn đăng thông báo m không có người liên hệ nh n lại xe thì xử lý theo quy định.

3. Về án phí: Áp d ng Điều 136 của Bộ lu t Tố t ng hình sự năm 2015; Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;

Bị cáo Bùi Duy T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đ ng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về kháng cáo: Áp d ng Điều 331, 333 Bộ lu t Tố t ng hình sự năm 2015;

Bị cáo có m t tại phiên t a được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ng y kể từ ng y tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan vắng m t tại phiên t a được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ng y kể từ ng y nh n được bản án ho c bản án được niêm y t theo quy định pháp lu t.

Cỡ chữ