- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu Lợi và đồng phạm - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 245 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hưu L, Nguyễn Xuân T, Nguyễn Hữu D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Trần Hữu Q, Đào Văn Q, Nguyễn Văn D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2025/HSST Ngày: 25/8/2025 |
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Sơn Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chiều và ông Bùi Văn Độ
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọt, Thẩm tra viên chính Toà án nhân dân khu vực 8 – Hà Nội.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Tuấn, Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 25 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 02/2025/HSST ngày 08 tháng 7 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST ngày 01/8/2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Hưu L, sinh ngày 09/4/2008 (16 tuổi 04 tháng 06 ngày); Giới tính: Nam; ĐKHKTT và ở: Thôn 3, xã P, huyện Q (nay là xã Q), thành phố H; Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: không; Con bà: Nguyễn Thị Thanh; Vợ con: chưa có.
Tiền án: Không
Nhân thân:
- Ngày 26/2/2024, UBND xã Phượng Cách, Quốc Oai ra Quyết định số 74 về việc áp dụng biện pháp hành chính giáo dục tại xã đối với Nguyễn Hưu L về hành vi Gấy rối trật tự công cộng.
- Ngày 21/6/2024 Công an huyện Quốc Oai ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 136 đối với Nguyễn Hưu L, hình thức “Cảnh cáo” về hành vi Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương.
Danh chỉ bản số 41 lập ngày 18/02/2025 tại Công an huyện Hoài Đức.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/02/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Nguyễn Xuân T, sinh ngày 29/12/2002; Giới tính: Nam; ĐKHKTT và ở: Thôn 2, xã Phượng Sơn, huyện Quốc Oai (nay là xã Quốc Oai); thành phố Hà Nội; Trình độ văn hoá:9/12; Nghề nghiệp: Tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Xuân Mạnh; Con bà: Nguyễn Thị Tâm; Vợ con: chưa có.
Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 118 ngày 06/6/2023 của Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Chấp hành xong ngày 04/3/2024 (chưa được xoá án tích).
Danh chỉ bản số 42 lập ngày 18/02/2025 tại Công an huyện Hoài Đức.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/02/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên Toà.
3. Họ và tên: Nguyễn Hữu D, sinh ngày 28/02/2008 (16 tuổi 5 tháng 18 ngày); Giới tính: Nam; ĐKHKTT và ở: Thôn 1, xã Phượng Sơn, huyện Quốc Oai (nay là xã Quốc Oai), thành phố Hà Nội; Trình độ văn hoá: 11/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Hữu Hải; Con bà: Đỗ Thị Huệ; Vợ con: chưa có.
Tiền án: Không
Nhân thân: Tại Bản án số 15 ngày 31/5/2025 của Toà án nhân dân huyện Quốc Oai, Hà Nội xử phạt Nguyễn Hữu D 03 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/8/2025 theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 1284/GCN ngày 18/8/2025 của Trại giam Quyết Tiến.
Danh chỉ bản số 43 lập ngày 11/02/2025 tại Công an huyện Hoài Đức.
Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên Toà.
4. Họ và tên: Trần Hữu Q, sinh ngày 18/10/2006 (17 tuổi 09 tháng 28 ngày); Giới tính: Nam; ĐKHKTT và ở: Thôn 9, xã Y, huyện H (nay là xã D), thành phố N. Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Trần Anh Quyết; Con bà: Nguyễn Thị Tuyết; Vợ con: chưa có.
Tiền án: Không
Nhân thân: Năm 2023 bị Công an huyện Hoài Đức xử phạt hành chính số tiền 3.250.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khoẻ cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã nộp phạt ngày 26/4/2023.
Danh chỉ bản số 745 lập ngày 25/04/2025 tại PC 11A – PT Hoài Đức.
Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên Toà.
5. Họ và tên: Đào Văn Q, sinh ngày 22/09/2006 (17 tuổi 10 tháng 24 ngày); Giới tính: Nam; ĐKHKTT và ở: Thôn 7, xã Y, huyện H (nay là xã D), thành phố N; Trình độ văn hoá: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Đào Văn Lợi; Con bà: Lê Thị Thuỷ; Vợ con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không
Danh chỉ bản số 746 lập ngày 25/4/2025 tại PC11A – PT Hoài Đức.
Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên Toà.
6. Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh ngày 11/05/2005; Giới tính: Nam; ĐKHKTT: Thôn 9, xã Y, huyện H (nay là xã D), thành phố N; Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Văn Thanh; Con bà: Đào Thị Bích; Vợ con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không
Danh chỉ bản số 747 lập ngày 25/4/2025 tại PC 11A – PT Hoài Đức
Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên Toà.
- Người đại diện theo pháp luật cho các bị cáo chưa thành niên gồm:
+ Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Nguyễn Hưu L là: bà Nguyễn Thị Thanh; Nghề nghiệp: nhân viên công ty vệ sinh; Nơi ĐKHKTT và ở: Thôn 3, xã P, huyện Q (nay là xã Q), thành phố H. Có mặt tại phiên Toà.
+ Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Nguyễn Hữu D là: Ông Nguyễn Hữu Hải và bà Đỗ Thị Huệ; Nghề nghiệp: làm ruộng; Nơi ĐKHKTT và ở: Thôn 1, xã Phượng Sơn, huyện Quốc Oai (Nay là xã Quốc Oai), thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên Toà.
Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Hưu L và Nguyễn Hữu D: Bà Nguyễn Phương Anh - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp Pháp lý Nhà nước Thành phố Hà Nội. Có mặt.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Trọng M, sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn 3, xã P, huyện Q (nay là xã Q), thành phố H. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Trọng K, sinh năm 2004; Địa chỉ: Thôn 3, xã P, huyện Q (nay là xã Q), thành phố H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22h ngày 15/8/2024, Nguyễn Xuân T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen chở Nguyễn Hưu L; Nguyễn Hữu D điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ chở Dương Văn Tráng; Nguyễn Trọng K một mình đều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision, BKS: 29V7-718.75 cùng rủ nhau đi tìm nhóm thanh niên khác trên địa bàn huyện Hoài Đức để gây sự, đánh nhau. Quá trình đi, Lợi lấy 01 con dao (dạng dao tự chế có mũi nhọn, dài khoảng 30-40cm, chuôi dao bằng kim loại màu bạc, dài khoảng 15cm, dao có 01 lưỡi). Sau đó, có Đôn Minh Quân điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 29X5- 025.75 chở Dương Đình Sáng đi chơi về đến trạm y tế xã Phượng Sơn thì cùng nhập vào nhóm. Tất cả đi theo ra đường gom Đại lộ Thăng Long, khi đi đến đoạn đường gầm cầu vượt Phương Bảng thuộc thôn 3, xã Song Phương, Hoài Đức thì Tráng nhặt thêm 01 vỏ chai bia ở lề đường cầm theo, rồi tiếp tục đi theo đường đê Song Phương để đi về xã Đắc Sở, huyện Hoài Đức, Hà Nội.
Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm đi đến đoạn đường trên mặt đê thuộc thôn 7, xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, Hà Nội thì bố Quân gọi về nhà nên đã chở Sáng không đi theo nhóm của Lợi, mà rẽ theo đường mòn đi về xã Phượng Sơn, huyện Quốc Oai. Còn Nguyễn Hữu D, Dương Văn Tráng, Nguyễn Trọng K, Nguyễn Hưu L, Nguyễn Xuân T tiếp tục đi đến thôn 7, xã Yên Sở, huyện Hoài Đức thì nhóm của Lợi gặp 03 xe máy gồm: Trần Hữu Q điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen, BKS: 29X5-725.74 chở Nguyễn Văn D; Nguyễn Như Vinh điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đen, BKS: 29X5-783.88 chở theo Nguyễn Đình Thái và Đào Văn Q một mình đi xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, BKS: 29X5-673.95 đi ngược chiều qua nhóm của Lợi.
Lúc này, Lợi nói với cả nhóm quay lại với mục đích đuổi đánh nhóm của Trần Hữu Q. Sau đó, Dương điều khiển xe máy chở Tráng đuổi theo phía trước, tiếp theo đến xe máy của Kiên, cuối cùng là xe máy của Nguyễn Xuân T chở Lợi, với tốc độ khoảng 50km/h. Nhóm của Quân thấy nhóm của Lợi có mang theo dao đuổi theo mình nên đã phóng xe máy bỏ chạy. Khi nhóm của Quân chạy đến đoạn lối rẽ xuống thôn 7, Yên Sở, Hoài Đức thì Quân tiếp tục điều khiển xe máy chở Duy đi thẳng trên mặt đê, còn Vinh và Quang điều khiển xe máy rẽ xuống cơ đê, lúc này Dương Văn Tráng dùng vỏ chai bia ném về phía nhóm của Quân nhưng không trúng ai, vỏ chai bia rơi xuống đất vỡ. Khi đó, xe máy của Dương chở Tráng đâm vào đuôi xe máy do Quân điều khiển chở Duy đang đi phía trước, làm xe của Duy ngã đổ ra đường đổ nghiêng bên trái trên mặt đường Đê Tả đáy, đầu xe hướng Cát Quế, đuôi xe hướng Song Phương, xe của Dương cũng ngã đổ ra nghiêng bên phải mặt đường đầu dốc xuống làng thôn 7, đầu xe hướng làng thôn 7, đuôi xe hướng Đê Tả đáy, chếch Cát Quế. Liền sau đó, xe máy do Kiên điều khiển đâm vào giữa xe máy AirBlade, BKS: 29X5-725.74 đổ ra đường, nghiêng bên trái trên mặt đường Để Tả đáy, đầu xe hướng Song Phương, đuôi xe hướng Cát Quế, Kiên ngã nằm bất tỉnh trên đường. Xe máy do Nguyễn Xuân T chở Lợi đi đến lách, tránh được không va chạm với xe máy nào nên không bị đổ, ngã. Khi đó, Nguyễn Hữu D đứng dậy dựng xe máy thì bị Trần Hữu Q, Nguyễn Văn D đến giữ lại và dùng tay đấm 03 cái vào mặt Dương. Đào Văn Q chạy đến đá 01 cái vào người Dương. Dương Văn Tráng bỏ chạy xuống dốc cơ đê về hướng thôn 7, xã Yên Sở, huyện Hoài Đức.
Nguyễn Xuân T điều khiển xe đi qua được khoảng 10 mét thì quay lại nhìn thấy Dương bị Quân, Duy, Quang đánh thì tiếp tục điều khiển xe máy chở Nguyễn Hưu L bỏ chạy về hướng đi xã Phượng Sơn, Quốc Oai. Trên đường đi qua sông Đáy, thì Lợi vứt bỏ con dao ở đó, không biết con dao trên hiện đang ở đâu.
Thu giữ tại hiện trường vụ việc:
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ (không BKS), số khung: RLHJA3906HY783716; số máy: JA39E0763872 (do Nguyễn Hữu D điều khiển).
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade, BKS: 29X5- 725.74, số khung: RLHJF6331MZ677085; số máy: JF94E0345077 (do Trần Hữu Q điều khiển).
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision, BKS: 29V7 -718.75, số khung: RLHJK0359RY020185, số máy: JK03E3325818 (do Nguyễn Trọng K điều khiển).
- 01 Usb nhãn hiệu Kingston màu đỏ, dung lượng 8GB được niêm phong bên trong phong bì, bên trong có đoạn video có độ dài 03 phút 00 giây liên quan đến vụ việc xảy ra tối ngày 15/8/2024 tại thôn 7, xã Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội.
Ngày 23/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hoài Đức ra Quyết định trưng cầu giám định số: 2558A đề nghị Trung tâm giám định pháp y thành phố Hà Nội giám định tỷ lệ phần trăm thương tích và cơ chế hình thành vết thương trên cơ thể của Nguyễn Trọng K. Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 1681/KLTTCT-TTPY ngày 02/12/2024 của Trung tâm pháp y thành phố Hà Nội, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương trên cơ thể của anh Nguyễn Trọng K tại thời điểm giám định là: 99%, áp dụng tại thông tư số: 22/2019/TT-BYT. Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương của anh Nguyễn Trọng K do vật tày, vật tày có cạnh gây ra. Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng và biến chứng của các tổn thương, đề nghị giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định ra viện.
Ngày 07/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hoài Đức ra các Quyết định trưng cầu giám định số: 3076, 3077 đề nghị Trung tâm giám định pháp y thành phố Hà Nội giám định tỷ lệ phần trăm thương tích và cơ chế hình thành vết thương trên cơ thể của Nguyễn Văn D và Trần Hữu Q. Tuy nhiên, cùng ngày Nguyễn Văn D, Trần Hữu Q và người giám hộ đều có đơn xin từ chối giám định thương tích.
Ngày 15/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hoài Đức ra Quyết định trưng cầu giám định số: 3198 đề nghị Trung tâm giám định pháp y thành phố Hà Nội giám định tỷ lệ phần trăm thương tích và cơ chế hình thành vết thương trên cơ thể của Dương Văn Tráng. Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 1725/KLTTCT-TTPY ngày 10/12/2024 của Trung tâm pháp y thành phố Hà Nội, kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Dương Văn Tráng tại thời điểm giám định là: 06%. Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích của anh Dương Văn Tráng do vật tày gây ra.
Ngày 11/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hoài Đức ra Quyết định trưng cầu giám định số: 3523 đề nghị Trung tâm giám định pháp y thành phố Hà Nội giám định tỷ lệ phần trăm thương tích và cơ chế hình thành vết thương trên cơ thể của Nguyễn Hữu D. Tuy nhiên, cùng ngày Nguyễn Hữu D và người giám hộ đều có đơn xin từ chối giám định thương tích.
Ngày 12/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hà Nội ra Quyết định dẫn giải đối với Dương nhưng Dương không chấp hành.
Ngày 19/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hoài Đức ra Quyết định trưng cầu giám định số: 4056 đề nghị Viện khoa học Hình sự - Bộ Công an giám định đoạn video Cơ quan điều tra thu giữ có bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hay không? Tại Bản Kết luận giám định số: 153/KL-KTHS ngày 05/2/2025 của Viện khoa học Hình sự - Bộ công an, kết luận: Không xác đinh được nội dung trong tệp video “video tai nạn 15.8.2024.mp4” mẫu cần giám định có bị cắt ghép, chỉnh sửa hình ảnh hay không (do nội dung được quay lại qua màn hình của thiết bị khác); nên không tiến hành các yêu cầu nội dung giám định khác.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 con dao (dạng dao tự chế có mũi nhọn, dài khoảng 30-40cm, chuôi dao bằng kim loại màu bạc dài khoảng 15cm, dao có 01 lưỡi) do Nguyễn Hưu L mang đi để đánh nhau ngày 15/8/2024. Nguyễn Hưu L và Nguyễn Xuân T đều khai nhận ngày 15/8/2024 khi các bị can đi qua sông Đáy, thì Lợi vứt bỏ con dao ở đó, không biết con dao trên hiện đang ở đâu nên Cơ quan điều tra không thể truy tìm và thu giữ được.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ (không BKS), số khung: RLHJA3906HY783716; số máy: JA39E0763872. Quá trình điều tra, xác định xe máy trên đăng ký mang tên chị Nguyễn Thị Nương (Sinh năm: 1987, HKTT: Bai Ngoài, Định Cư, Lạc Sơn, Hòa Bình). Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Arblade, BKS: 29X5-725.74, số khung: RLHJF6331MZ677085; số máy: JF94E0345077. Quá trình điều tra, xác định xe máy trên đăng ký mang tên Nguyễn Văn D. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, BKS: 29V7-718.75, số khung: RLHJK0359RY020185, số máy: JK03E3325818. Quá trình điều tra, xác định xe máy trên đăng ký mang tên Nguyễn Trọng M. Hiện 03 chiếc xe trên đang được lưu giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 – Hà Nội để xem xét, xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự:
Nguyễn Xuân T, Nguyễn Văn D không có yêu cầu về bồi thường thiệt hại tài sản. Anh Nguyễn Trọng M chưa có yêu cầu gì. Nguyễn Hữu D, Trần Văn Quân, Nguyễn Văn D, Dương Văn Tráng không có yêu cầu gì về bồi thường đối với sức khỏe.
Tại Bản cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 04/7/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Hưu L, Nguyễn Xuân T, Nguyễn Hữu D về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Trần Hữu Q, Đào Văn Q, Nguyễn Văn D về tội Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hưu L và Nguyễn Hữu D phát biểu tại phiên Toà:
+ Thứ nhất, đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay các bị cáo đã thành khẩn tự giác khai báo chi tiết hành vi phạm tội của mình, không quanh co chối tội, lời khai luôn thống nhất, đầy đủ và đúng sự thật những vấn đề liên quan đến hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Điều này cho thấy các bị cáo đã nhận thức rõ về sự sai trái trong hành vi của mình, thể hiện sự ăn năn hối cải đồng thời cho thấy khả năng tự cải tạo bản thân của các bị cáo.
+ Thứ hai, về nhân thân và hoàn cảnh gia đình của bị cáo: 02 bị cáo Nguyễn Hưu L, Nguyễn Hữu D là người chưa thành niên, thời điểm phạm tội chỉ vừa bước qua tuổi 16, cả 02 bị cáo đều chưa có đầy đủ nhận thức pháp luật, chưa phát triển đầy đủ về tâm sinh lý. Người chưa thành niên thường có tính cách nông nổi, hiếu thắng, liều lĩnh trước tác động của ngoại cảnh, cũng bởi sự phát triển nhanh về thể chất muốn thể hiện sức mạnh bản thân. Các bị cáo đều sinh ra trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Bị cáo Lợi sinh ra và lớn lên không có bố, mẹ làm tạp vụ thường xuyên vắng nhà nên bị cáo thiếu vắng sự dạy dỗ, dìu dắt của gia đình. Chỉ có mẹ con nương tựa vào nhau cả về tinh thần và kinh tế.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo Nguyễn Hưu L, Nguyễn Hữu D được hưởng mức án thấp hơn mức mà đại diện Viện kiếm sát đề nghị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, TP Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, nhân thân của các bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Hưu L và Nguyễn Hữu D mức án từ 18 đến 24 tháng tù.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T mức án từ 24 đến 30 tháng tù.
+ Xử phạt bị cáo Trần Hữu Q, Đào Văn Q mức án từ 6 đến 9 tháng tù.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D mức án từ 9 đến 12 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ xác định tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người liên quan cùng vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 15/8/2024, tại khu vực đường đê thuộc thôn 7, xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, Hà Nội, Nguyễn Hữu D điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ chở Dương Văn Tráng cầm theo 01 vỏ trai bia đi trước, tiếp sau là Nguyễn Trọng K một mình đều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision, BKS: 29V7-718.75 đi sau và Nguyễn Xuân T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen chở Nguyễn Hưu L cầm theo 01 con dao đi cuối cùng đuổi đánh Trần Hữu Q điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đen, BKS: 29X5-725.74 chở Nguyễn Văn D; Nguyễn Như Vinh điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đen, BKS: 29X5-783.88 chở Nguyễn Đình Thái và Đào Văn Q một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, BKS: 29X5-673.95. Khi đến đoạn lối rẽ xuống thôn 7, Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội, Dương Văn Tráng dùng vỏ trai bia ném về phía nhóm của Quân nhưng không trúng và xe máy của Dương đâm vào đuôi xe máy của Quân điều khiển đang đi phía trước, làm xe của hai xe bị đổ trên mặt đường. Lúc này, Kiên điều khiển xe máy đi phía sau đâm vào giữa xe máy AirBlade, BKS: 29X5- 725.74 đổ trên đường, làm xe của Kiên đổ, Kiên ngã nằm bất động trên đường, tỷ lệ tổn thương: 99%. Sau đó, Nguyễn Hữu D đứng dậy dựng xe máy thì bị Trần Hữu Q, Nguyễn Văn D đến giữ lại và dùng tay không đấm 03 cái vào mặt Dương, Đào Văn Q Quang chạy đến đá 01 cái vào người Dương. Dương Văn Tráng bỏ chạy xuống dốc cơ đê về hướng thôn 7, xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, Hà Nội.
Như vậy hành vi của các bị cáo Nguyễn Hưu L, Nguyễn Xuân T và Nguyễn Hữu D đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo Trần Hữu Q, Đào Văn Q, Nguyễn Văn D đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hà Nội truy tố các bị cáo về tội danh như trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Xuân T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Trần Hữu Q, Đào Văn Q, Nguyễn Văn D còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đánh giá tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây tâm lý lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo sử dụng hung khí nguy hiểm có khả năng gây tai nạn giao thông cho người đi đường, gây thương tích cho chính các bị cáo và là nguyên nhân dẫn đến tội phạm khác. Vì vậy, cần phải có một mức án nghiêm khắc đối với các bị cáo, nhằm đảm bảo tính giáo dục và làm bài học ngăn ngừa chung. Đối với bị cáo Nguyễn Hưu L là người trực tiếp lấy và cầm dao đi gấy rối, cùng với bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Hữu D là những bị cáo có tiền án, tiền sự và nhân thâu xấu nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức mà tiếp tục vi phạm pháp luật nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm cao hơn các bị cáo khác.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo Trần Hữu Q, Đào Văn Q và Nguyễn Văn D phạm tội với vai trò đồng phạm đơn giản, mang tính bột phát và không có sự bàn bạc kỹ lưỡng; Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên Toà các bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, lần đầu phạm tội và có nơi cư trú rõ ràng, có các tình tiết giảm nhẹ như đã viện dẫn ở trên. Do đó, không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ cải tạo các bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.
Các bị cáo Nguyễn Hưu L, Nguyễn Hữu D, Trần Hữu Q, Đào Văn Q khi phạm tội đều khi chưa đủ 18 tuổi nên khi lượng hình cần áp dụng tinh thần của Luật tư pháp người chưa thành niên để xem xét áp dụng hình phạt cho các bị cáo.
Đối với thương tích của Dương Văn Tráng: Quá trình điều tra lấy lời khai của các bị cáo và người làm chứng không đủ căn cứ để làm rõ được thương tích của Tráng do bị đánh, bị gạch ném hay do va chạm giao thông gây nên, Tráng cũng không có đơn yêu cầu khởi tố nên cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý. Đối với hành vi Gây rối trật tự công cộng: tại thời điểm phạm tội Tráng được 15 tuổi 07 tháng 15 ngày nên căn cứ Điều 12 Bộ luật Hình sự, Tráng chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Ngày 29/4/2025, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hà Nội ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Dương Văn Tráng bằng hình thức Cảnh cáo là đúng quy định của pháp luật.
Đối với thương tích của Nguyễn Trọng K: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo Nguyễn Hữu D, Dương Văn Tráng, Nguyễn Hưu L, Nguyễn Xuân T và người làm chứng xác định trước, trong, sau khi xảy ra vụ việc Kiên không bị ai đánh, ném vật cứng vào người gây thương tích cho Kiên. Thương tích trên do quá trình Kiên cùng nhóm của mình đuổi đánh nhóm của Trần Hữu Q dẫn đến khi xe máy của Nguyễn Hữu D điều khiển chở theo Dương Văn Tráng đâm vào đuôi xe máy AirBlade, BKS: 29X5-725.74 do Trần Hữu Q điều khiển chở theo Nguyễn Văn D, làm xe của Dương và Quân cùng đổ ra đường. Liền sau đó, xe máy do Kiên điều khiển đâm vào giữa xe máy AirBlade, BKS: 29X5-725.74, Kiên ngã nằm bất động trên đường, không có ai đánh Kiên. Do đó, Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ. Đối với hành vi Gây rối trật tự công cộng vào ngày 15/8/2024 của Kiên tại khu vực mặt đê thuộc thôn 7, xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội. Ngày 22/4/2025, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Trọng K về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 1681/KLTTCT- TTPY ngày 02/12/2024 của Trung tâm pháp y thành phố Hà Nội, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương trên cơ thể của anh Nguyễn Trọng K tại thời điểm giám định là: 99%. Do vậy, ngày 20/6/2025, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hà Nội ra Quyết định đình chỉ điều tra đối với Nguyễn Trọng K theo điểm b khoản 2 Điều 29 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Đối với Đôn Minh Quân, Dương Đình Sáng, Nguyễn Như Vinh, Nguyễn Đình Thái không tham gia vào hành vi Gây rối trật tự công cộng vào ngày 15/8/2024 tại khu vực mặt đê thuộc thôn 7, xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Quá trình di chuyển trên đường, Đôn Minh Quân, Dương Đình Sáng, Nguyễn Như Vinh, Nguyễn Đình Thái không di chuyển với tốc độ cao, không bấm còi, hò hét nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen mà Nguyễn Xuân T điều khiển chở Nguyễn Hưu L. Tại Cơ quan điều tra, Thiện khai nhận mượn của một người đàn ông có tên Trần Văn Quý (Sinh năm: 1986) là người làm phụ hồ cùng với Thiện. Thiện không nhớ biển số xe và không biết địa chỉ cụ thể của Trần Văn Quý. Sau ngày 15/8/2024, Thiện đã trả lại xe máy cho Quý. Do vậy, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh làm rõ và thu giữ chiếc xe trên.
Xử lý vật chứng:
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ (không BKS), số khung: RLHJA3906HY783716; số máy: JA39E0763872. Quá trình điều tra, xác định xe máy trên đăng ký mang tên chị Nguyễn Thị Nương (Sinh năm: 1987, HKTT: Bai Ngoài, Định Cư, Lạc Sơn, Hòa Bình). Qua làm việc, chị Nương cung cấp mua chiếc xe máy trên năm 2019 và đăng ký xe tên chị mang 28N1-318.04. Đến năm 2022, chị bán chiếc xe trên và toàn bộ giấy tờ của xe cho một người đàn ông (không quen biết). Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân T khai nhận chiếc xe trên Thiện mua của một người đàn ông tên Quyên vào đầu tháng 08/2024. Khi mua xe, không có BKS và đăng ký xe. Qua tra cứu nguồn gốc hợp pháp chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Bị cáo Thiện sử dụng phương tiện trên tham gia gấy rối trật tự công cộng nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Arblade, BKS: 29X5-725.74, số khung: RLHJF6331MZ677085; số máy: JF94E0345077. Quá trình điều tra, xác định xe máy trên đăng ký mang tên Nguyễn Văn D. Duy sử dụng để đi lại thì bị nhóm của Lợi đuổi đánh nên phương tiện này không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, BKS: 29V7-718.75, số khung: RLHJK0359RY020185, số máy: JK03E3325818, đăng ký mang tên Nguyễn Trọng M. Quá trình điều tra xác định anh Triều không giao xe cho Nguyễn Trọng K. Ngày 15/8/2024, Kiên tự lấy xe đi anh Triều không ở nhà nên không biết. Do đó cần trả lại chiếc xe trên cho anh Nguyễn Trọng M là đúng quy định của pháp luật.
Về dân sự: không.
Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hưu L, Nguyễn Xuân T, Nguyễn Hữu D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Trần Hữu Q, Đào Văn Q, Nguyễn Văn D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Hưu L 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/02/2025.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/02/2025.
- Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65; Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Trần Hữu Q 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án.
+ Xử phạt bị cáo Đào Văn Q 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo Trần Hữu Q, Đào Văn Q, Nguyễn Văn D cho Uỷ ban nhân dân xã Dương Hoà, thành phố Hà Nội theo dõi, giám sát trong thời gian thử thách của Bản án. Trường hợp các bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự; trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung quỹ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ (không BKS), số khung: RLHJA3906HY783716; số máy: JA39E0763872 (yếm bên trái bị vỡ kéo dài sắp bung rời, yếm bên phải bị vỡ lìa khỏi yếm, vành xe phía trước biến dạng, xi nhan phải bị vỡ rịa, không chìa khoá xe).
- Trả lại Nguyễn Văn D 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, số khung: RLHJF6331MZ677085; số máy: JF94E0345077 (xe không đeo biển số, chắn bùn, bánh sau bị đứt, mất) và 01 biển kiểm soát 29X5-725.74 (nằm trong cốp xe Airblade).
- Trả lại ông Nguyễn Trọng M 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, số khung: RLHJK0359RY020185, số máy: JK03E3325818 (xe không có chìa khoá, chắn bùn trước rời khỏi xe, nắp trước tay lái bị vỡ rịa, bung, vênh) và 01 Biển kiểm soát 29V7-718.75 (gắn trên xe máy Honda Vision).
(Số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 – Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31 tháng 7 năm 2025).
3. Về dân sự: Không
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; NĐD của các bị cáo; NLQ - TT lý lịch-Sở Tư pháp Hà Nội; - VKSND khu vực 8 – Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Phòng Thi hành án hình sự khu vực 8; - Lưu HS – VP THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ ZZ | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Sơn Hà THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |