- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức Thuận - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2025/HSST Ngày 15-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Phú Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Tấn Lãm; bà Nguyễn Thị Mùa
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh – Thư ký Toà án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hữu Phương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 5 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐ-XX ngày 25 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Đức A (tên gọi khác: Không), sinh năm 1994, tại Bình Thuận; nơi cư trú: thôn SĐ, xã HS, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn A (đã chết) và bà Lê Thị C, sinh năm 1959, bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12 tháng 11 năm 2024 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Khắc D, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn SĐ, xã HS, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Ngày 10 tháng 11 năm 2024, Lê Đức A đi đến quán cà phê ở khu vực phường PT, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận để uống nước thì gặp đối tượng tên Đ mà A quen biết trước đó (không rõ họ, địa chỉ). Tại đây, Đ và A thỏa A là đến ngày 12 tháng 11 năm 2024, A vận chuyển pháo từ khu vực xã PN, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đến tỉnh Lâm Đồng cho Đ và Đ sẽ trả tiền công là 2.000.000 đồng. Sau đó, Đ đưa trước cho A số tiền 1.000.000 đồng, còn 1.000.000 đồng hai bên hẹn sau khi vận chuyển xong Đ sẽ trả đầy đủ. Đồng thời, Đ nói khi đi đến xã PN, huyện Bù Gia Mập thì gọi điện cho Đ biết để Đ gọi người đem pháo đến giao cho A.
Khoảng 13 giờ ngày 12 tháng 11 năm 2024, A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter, mang biển kiểm soát 72K7-3455 đi đến khu vực xã PN, huyện Bù Gia Mập liền gọi điện thoại thông báo cho Đ biết thì Đ nói A đi đến quốc lộ 14C thuộc thôn TL, xã PN có người chờ ở ven đường. A điều khiển xe mô tô theo sự chỉ dẫn của Đ thì thấy một đối tượng nam giới (không rõ nhân thân lai lịch) đang ngồi trên xe mô tô (không rõ đặc điểm và biển kiểm soát xe) dựng ở bên lề đường, phía sau yên xe có 01 thùng cattong thì A dừng xe và hỏi có phải chở hàng cho Đ không thì đối tượng này trả lời phải. Sau đó, A và đối tượng này khiêng 01 thùng cattong, bên trong có 02 bao xác rắn màu đen chứa các hộp pháo lên phía sau yên xe mô tô của A rồi đối tượng này bỏ đi. Sau đó, A điều khiển xe chở pháo về tỉnh Lâm Đồng theo hướng dẫn của Đ. Khi A đi đến thôn BGP 1, xã PN, huyện Bù Gia Mập thì bị lực lượng Công an huyện Bù Gia Mập phát hiện, lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ:
37 khối hình hộp chữ nhật, cùng kích thước (17 x 17 x 10)cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài (sau khi thu giữ đã niêm phong để phục vụ việc giám định); 02 bao xác rắn màu đen.
01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter, biển kiểm soát 72K7-3455 số máy 2S01014108, số khung RLCJ2S0106Y014108; 01 điện thoại di động REALME, Android, màu xanh, kiểu máy RMX1911, bên trong có gắn thẻ sim 0858.949.777 để phục vụ công tác điều tra.
Theo Kết luận giám định số 1263/KL-KTHS ngày 20 tháng 11 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: 37 khối hình hộp chữ nhật gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng nhiều màu sắc, tổng khối lượng là 58,8kg. Hoàn lại mẫu giám định (32 khối) có khối lượng 50,85kg.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 32 khối hình hộp chữ nhật hoàn lại sau giám định và 02 bao xác rắn màu đen là tang vật vụ án. Do pháo là hàng cấm và là vật dễ cháy nổ, nên ngày 14 tháng 02 năm 2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Gia Mập đã tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter biển kiểm soát 72K7-3455 mà Lê Đức A sử dụng làm phương tiện vận chuyển pháo nổ thuộc sở hữu hợp pháp của ông Lê Khắc D (em trai của A). Ngày 12 tháng 11 năm 2024, A sử dụng xe làm phương tiện vận chuyển pháo nổ nhưng D không biết.
Đối với điện thoại di động REALME, Android, màu xanh có gắn thẻ sim thuộc sở hữu hợp pháp của Lê Đức A. Ngày 12 tháng 11 năm 2024, A sử dụng chiếc điện thoại này làm phương tiện liên lạc để vận chuyển pháo nổ.
Đối với số tiền 1.000.000 đồng, Lê Đức A đã tiêu xài hết trong quá trình vận chuyển pháo.
Tại Bản Cáo trạng số 24/CTr-VKSBGM ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Lê Đức A về tội “vận chuyển hàng cấm” điểm g khoản 2 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập vẫn giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; 38 của Bộ luật hình sự. Xử hình phạt chính đối với bị cáo A mức án từ 30 – 36 tháng tù. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập còn đề nghị xử lý vật chứng vụ án.
Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Đức A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản Cáo trạng số 24/CTr-VKSBGM ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập đã truy tố.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, cách thức thực hiện tội phạm, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân, nên ngày 12 tháng 11 năm 2024, bị cáo A đã điều khiển xe mô tô vận chuyển 58,8kg pháo nổ cho đối tượng tên Đ từ xã PN, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đến tỉnh Lâm Đồng với tiền công là 2.000.000 đồng. Khi bị cáo vận chuyển pháo nổ đến thôn BGP 1, xã PN, huyện Bù Gia Mập thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “vận chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[4] Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi vận chuyển pháo hoa nổ cho người khác để được lợi là vi phạm pháp luật, khi bị phát hiện sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Xét tính chất, mức độ mà hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định về quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu hành. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố bị cáo về tội “vận chuyển hàng cấm” theo điểm g khoản 2 Điều 191 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nên cần xem xét khi lượng hình. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
[7] Đối với đối tượng tên Đ và đối tượng giao pháo nổ cho A tại xã PN, huyện Bù Gia Mập. Quá trình điều tra đến nay chưa xác định được nhân thân lai lịch. Đồng thời, Tập đoàn Công nghiệp Viên thông Quân đội (Viettel) chưa có công văn trả lời các nội dung mà Cơ quan điều tra yêu cầu, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Phước đã tách ra để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề để xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với 32 khối hình hộp chữ nhật hoàn lại sau giám định và 02 bao xác rắn màu đen là tang vật vụ án. Do pháo là hàng cấm và là vật dễ cháy nổ, nên ngày 14 tháng 02 năm 2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Gia Mập đã tiêu hủy theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề để xem xét.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter biển kiểm soát 72K7-3455 mà bị cáo A sử dụng làm phương tiện vận chuyển pháo nổ thuộc sở hữu hợp pháp của ông Lê Khắc D (em trai của bị cáo A). Ngày 12 tháng 11 năm 2024, bị cáo A sử dụng xe làm phương tiện vận chuyển pháo nổ nhưng ông D không biết nên cần trả phương tiện này lại cho ông D.
Đối với điện thoại di động REALME, Android, màu xanh có gắn thẻ sim thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo A. Ngày 12 tháng 11 năm 2024, bị cáo đã sử dụng chiếc điện thoại này làm phương tiện liên lạc để vận chuyển pháo nổ nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền 1.000.000 đồng mà bị cáo A nhận của đối tượng tên Đ, bị cáo đã tiêu xài hết trong quá trình vận chuyển pháo. Tuy nhiên, xác định đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có. Vì vậy, truy thu số tiền này để nộp ngân sách Nhà nước.
[9] Đối với lời phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tại phiên tòa, Hội đồng xét thấy có cơ sở nên được chấp nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Lê Đức A (tên gọi khác: Không) phạm tội “vận chuyển hàng cấm”.
2. Về hình phạt chính:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, 2; Điều 51; Điều 50; 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lê Đức A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 12 tháng 11 năm 2024.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
4. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên trả lại cho ông Lê Khắc D 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter biển kiểm soát 72K7-3455.
Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với 01 điện thoại di động REALME Android, màu xanh có gắn thẻ sim của bị cáo Lê Đức A.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0008948; Quyển số 0179; Ký hiệu D47/2017 ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập).
Buộc bị cáo Lê Đức A phải nộp lại số tiền 1.000.000 đồng để truy thu nộp ngân sách Nhà nước.
5. Về án phí hình sự sơ thấm:
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo Lê Đức A phải nộp 200.000 đồng.
6. Quyền kháng cáo:
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước (1); - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước (1); - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước (1); - Phòng PV 06 Công an tỉnh Bình Phước (2) - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập (1); - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập(1); - Phân trại tạm giam huyện Bù Gia Mập - Công an tỉnh Bình Phước (1); - Người tham gia tố tụng (2); - Lưu hồ sơ; Văn thư (2); | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VĂN PHÚ VINH |