- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Ch và Trần Văn H - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức…"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Ch phạm tội "Làm giả tài liệu của cơ quan". Bị cáo Trần Văn H phạm tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày 04-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Ngọc Luân.
2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hiền - Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Ngọc Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Trần Văn Ch, sinh năm 1972 tại tỉnh Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình); nơi cư trú: Thôn Tr, xã T, thị xã K, tỉnh Hà Nam (nay là thôn Tr, phường T, tỉnh Ninh Bình); Căn cước công dân số: 035072002302; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang N (đã chết) và bà Lường Thị Nh; có vợ là Phạm Thị T và có 03 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
2. Trần Văn H, sinh năm 2003 tại tỉnh Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình); nơi cư trú: Thôn Tr, xã T, thị xã K, tỉnh Hà Nam (nay là thôn Tr, phường T, tỉnh Ninh Bình); Căn cước công dân số: 035203004598; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Ch và bà Phạm Thị M; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn H chưa có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 nhưng được Trần Văn Ch (bố đẻ của H), đều trú tại thôn Tr, xã T, thị xã K, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố Tr, phường T, tỉnh Ninh Bình) giao cho chiếc xe mô tô để làm phương tiện đi lại. Quá trình tham gia giao thông do không có giấy phép lái xe lo sợ gặp lực lượng chức năng kiểm tra sẽ bị xử phạt nên H đã nhờ Ch đặt mua 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 trên mạng, Ch đồng ý. Khoảng tháng 9/2022, Ch sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Trần Ch” đăng nhập, tìm kiếm địa chỉ làm bằng giả thì thấy có một tài khoản mạng xã hội Facebook (Ch không nhớ tên tài khoản đó) đăng nhận làm giấy phép lái xe mô tô không cần phải thi. Sau khi thỏa thuận giá làm giấy phép lái xe mô tô hạng A1 cho Trần Văn H với giá 1.000.000 đồng, Ch đã cung cấp thông tin tên tuổi, ngày tháng năm sinh, địa chỉ thường trú của Trần Văn H, kèm 01 ảnh 3 x 4 cho tài khoản mạng xã hội Facebook theo yêu cầu, đồng thời cung cấp thông tin địa chỉ nhà và số điện thoại 0352.328.676 cho tài khoản Facebook để nhận. Khoảng 05 ngày sau Ch nhận được 01 gói bưu phẩm từ nhân viên giao hàng (Ch không biết và không nhớ đặc điểm của nhân viên giao hàng), mở ra bên trong có một Giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số 350212555556 ghi thông tin cá nhân của Trần Văn H do Sở Giao thông vận tải tỉnh Hà Nam cấp ngày 01/3/2022 có giá trị đến không thời hạn và trả số tiền 1.000.000 đồng cho nhân viên giao hàng. Vài ngày sau, Ch đưa giấy phép lái xe trên cho H, H cầm và trả cho Ch 1.000.000 đồng. Sau khi có giấy phép lái xe giả, H luôn mang theo người khi tham gia giao thông với mục đích để xuất trình nếu bị lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra. Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 10/3/2025, H điều khiển xe mô tô biển số 90B3-395xx không đội mũ bảo hiểm chở chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 2003, trú tại tổ dân phố B, phường T, thị xã K, tỉnh Hà Nam đang lưu thông trên đường ĐT494B thuộc địa phận tổ dân phố số 3, phường Quế, thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố số 3, phường Kim Bảng, tỉnh Ninh Bình) thì bị Tổ tuần tra kiểm soát thuộc Đội 6 - Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Nam kiểm tra, phát hiện, tạm giữ của Trần Văn H 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 có số 350212555556 ghi thông tin cá nhân của Trần Văn H do Sở Giao thông vận tải tỉnh Hà Nam cấp ngày 01/3/2022 có giá trị đến không thời hạn, niêm phong trong phong bì ký hiệu QT.
Tại bản Kết luận giám định số 164/KL-KTHS ngày 24/3/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Giấy phép lái xe hạng A1 số 350212555556 gửi giám định ký hiệu A là giả”.
Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKS-KV5 ngày 10/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố bị cáo Trần Văn Ch về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan” và truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với cả hai bị cáo; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H: Xử phạt bị cáo Trần Văn Ch từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan”; xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Trần Văn H.
Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn Ch, Trần Văn H đều khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố và nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên; các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tại ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời nhận tội của các bị cáo Trần Văn Ch, Trần Văn H tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập.
Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 20 giờ ngày 10/3/2025, tại tổ dân phố số 3, phường Quế, thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố số 3, phường Kim Bảng, tỉnh Ninh Bình), bị cáo Trần Văn H điều khiển xe mô tô biển số 90B3-395xx tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm nên đã bị Tổ Cảnh sát giao thông thuộc Đội 6 - Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Nam kiểm tra, phát hiện và tạm giữ 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số 350212555556 giả mang tên Trần Văn H. Quá trình đấu tranh H khai nhận, khoảng tháng 9/2022 tại thôn Tr, xã T, thị xã K, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố Tr, phường T, tỉnh Ninh Bình), Trần Văn Ch đã cung cấp thông tin của con trai là Trần Văn H cho đối tượng trên mạng xã hội Facebook rồi đặt và mua được 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số 350212555556 giả mang tên Trần Văn H với giá 1.000.000 đồng đưa cho Trần Văn H để sử dụng khi tham gia giao thông.
Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn bình thường của cơ quan trong hoạt động quản lý hành chính, gây tâm lí hoang mang và bất bình trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, hành vi của bị cáo Trần Văn Ch đã phạm vào tội “Làm giả tài liệu của cơ quan” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Trần Văn H đã phạm vào tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Cả hai bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Cả hai bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Cả hai bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa đều khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải nên cả hai đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo H đã có thời gian tham gia quân đội và hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên Hải được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Hội đồng xét xử thấy các bị cáo Trần Văn Ch, Trần Văn H đều có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết phải cách li Ch và H ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và giao cho Công an địa phương nơi cư trú giám sát, chính quyền địa phương nơi cư trú giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo, đồng thời cũng thể hiện chính sách nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy cả hai bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, không có tài sản riêng, do đó miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về các vấn đề khác: Đối với các đối tượng đã làm giấy phép lái xe giả và nhân viên giao hàng: Do bị cáo Ch không nhớ tài khoản Facebook của đối tượng làm giấy phép lái xe giả, không biết họ tên tuổi và đặc điểm nhận dạng của những người đó nên không có căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Trần Văn H có giá trị chứng minh tội phạm nên cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
Đối với chiếc điện thoại Realme bị cáo Ch sử dụng để liên lạc đặt mua giấy phép lái xe giả, Ch đã làm mất nên không thu giữ được, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trần Văn Ch, Trần Văn H; căn cứ thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn H. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:
1. Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Ch phạm tội "Làm giả tài liệu của cơ quan". Bị cáo Trần Văn H phạm tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan".
- Xử phạt bị cáo Trần Văn Ch 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án 04/8/2025.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn H 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án 04/8/2025.
Giao các bị cáo Trần Văn Ch, Trần Văn H cho Công an phường T, tỉnh Ninh Bình giám sát; Uỷ ban nhân dân phường T, tỉnh Ninh Bình giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Văn Ch, Trần Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 5; - Phòng HSNV Công an tỉnh Ninh Bình; - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình; - Các bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Thạo |