vanban.org

Bản án 23/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bế Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Bế Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 19/4/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bế Văn D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bế Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HS-ST
Ngày 30-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thị Huyền Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Phẩm;

Bà Vy Thị Thơm.

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Chí Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2025, Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 29/2025/QĐ-TA ngày 27/6/2025 đối với bị cáo:

Bế Văn D, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1986 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bế Quảng B và bà Nông Thị M; có vợ là Vũ Thuý N và 01 con sinh năm 2019; tiền án: Không có; tiền sự: 01 tiền sự tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 37/QĐ-TA ngày 16/10/2023 của Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn với thời hạn 18 tháng (chưa chấp hành xong); nhân thân: Bị xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2014/HSST ngày 28/4/2014 của Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (đã được xoá án tích), bị xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 36/QĐ-XPVPHC ngày 05/4/2017 của Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn (đã được xoá vi phạm), chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/4/2025 đến ngày 22/04/2025 chuyển tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Lộc Bình – Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Ông Hoàng Văn N, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 2007; địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền để tiêu xài nên bị cáo Bế Văn D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản là xe mô tô. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 29/3/2025, bị cáo Bế Văn D lấy một thanh kim loại hình trụ, một đầu được mài dũa nhọn, một đầu được mài dũa dẹt có sẵn tại nhà cho vào túi áo và đi bộ từ nhà đến khu B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn với mục đích tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến gần quán Ốc H thuộc khu B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì bị cáo Bế Văn D phát hiện có nhiều xe mô tô đỗ trên vỉa hè. Bị cáo Bế Văn D quan sát không có ai trông coi xe mô tô nên đã lén lút dắt xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, màu xanh, không có gương chiếu hậu, BKS 12L1- 30147 đi qua đường và đi vào ngõ đối diện quán ốc, đến bãi đất trống ở cuối ngõ, cách quán Ốc H khoảng 90m để phá khóa. Bị cáo Bế Văn D dùng thanh kim loại chọc vào ổ khóa điện để mở khóa điện xe mô tô nhưng không phá khóa được nên bị cáo vứt bỏ thanh kim loại tại đây. Sau đó, bị cáo Bế Văn D dắt bộ xe mô tô về nhà tại khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Khi về đến nhà thì bị cáo Bế Văn D cho xe mô tô vào phòng ngủ để cất giấu. Bị cáo Bế Văn D dùng kìm tháo, bẻ cong BKS xe mô tô rồi cất giầu dưới gầm giường. Bị cáo Bế Văn D tiếp tục dùng tay kéo mạnh làm gãy phần lẫy làm bằng nhựa gắn liền với yên xe mô tô để kiểm tra xem trong cốp xe có giấy tờ xe mô tô hay không nhưng không thấy có giấy tờ xe. Sau đó, bị cáo Bế Văn D dùng tua vít tháo giá baga của xe mô tô ra để dưới nền nhà rồi đi ngủ. Ngày 30/3/2025, bị cáo Bế Văn D bỏ đi khỏi địa phương.

Ngày 09/4/2025, Công an tỉnh Lạng Sơn nhận được tin báo của anh Hoàng Văn H về việc: Khoảng 20 giờ ngày 29/3/2025, anh Hoàng Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát (BKS) 12L1- 301.47 (là xe mô tô thuộc sở hữu của bố anh Hoàng Văn H là ông Hoàng Văn N) đến quán Ốc H thuộc khu B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Khi đến quán thì anh Hoàng Văn H đỗ xe trên vỉa hè, cách quán 15m, sau đó đi bộ vào quán. Đến khoảng 02 giờ 05 phút ngày 30/3/2025, anh Hoàng Văn H ra vị trí để xe mô tô thì phát hiện xe mô tô đã bị mất trộm. Qua xác minh, Cơ quan điều tra xác định đối tượng trộm cắp tài sản là bị cáo Bế Văn D.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 21/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Lộc Bình kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, không có gương chiếu hậu giá 10.500.000 (mười triệu năm trăm nghìn đồng); cụm khóa điện bị hư hỏng giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và lẫy cốp xe giá 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng).

Về vật chứng của vụ án: Ngày 23/4/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, không có gương chiếu hậu, số máy: JA39E2814210, số khung: RLHJA3923NY400926, xe đã hư hỏng ổ khóa điện và gãy lẫy cốp xe; 01 (một) biển kiểm soát xe mô tô mang số 12L1-30147, đã bị bẻ cong; 01 (một) giá baga phía trước xe mô tô, bằng kim loại, kích thước 46cm x 14cm cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Hoàng Văn N theo quy định của pháp luật. Vật chứng còn lại gồm: 01 (một) thanh kim loại hình trụ dài 12,5cm, đường kính 1,2cm, một đầu nhọn được mài dũa dài 2,2cm, một đầu được mài dũa dẹt hai bên dài 1,5 cm, đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện L để quản lý theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Bế Văn D đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại ông Hoàng Văn N số tiền 930.000 đồng (chín trăm ba mươi nghìn đồng) là số tiền mà bị hại ông Hoàng Văn N đã sử dụng để sửa chữa và thay thế các bộ phận bị hư hỏng của chiếc xe mô tô do bị cáo Bế Văn D gây ra. Ông Hoàng Văn N đã nhận đủ tiền và không có ý kiến gì thêm.

Bản Cáo trạng số: 17/CT-VKSLB, ngày 17 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Bế Văn D về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bế Văn D thừa nhận hành vi phạm tội Trộm cắp tài sản của bản thân như Cáo trạng đã truy tố.

Tại những lời khai ở cơ quan điều tra, bị hại ông Hoàng Văn N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hoàng Văn H trình bày gia đình bị hại đã nhận lại xe mô tô bị mất trộm, được gia đình bị cáo bồi thường tiền sửa chữa xe nên không còn yêu cầu bồi thường gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bế Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Bế Văn D từ 15 tháng đến 20 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã được trả lại xe mô tô và nhận được tiền bồi thường, sửa chữa xe, không còn yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) thanh kim loại hình trụ dài 12,5cm, đường kính 1,2cm, một đầu nhọn được mài dũa dài 2,2cm, một đầu được mài dũa dẹt hai bên dài 1,5 cm là công cụ mà bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người bị hại ông Hoàng Văn N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hoàng Văn H nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra và có đơn xin giải quyết vắng mặt. Việc vắng mặt của người tham gia tố tụng không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản xác định hiện trường và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 29/3/2025, tại quán Ốc H thuộc khu B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Bế Văn D đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh BKS 12L1-301.47, trị giá 10.500.000 đồng (mười triệu năm trăm nghìn đồng); làm hư hỏng cụm khóa điện bị hư hỏng giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và lẫy cốp xe giá 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) của bị hại ông Hoàng Văn N. Hành vi của bị cáo Bế Văn D đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích vụ lợi, thể hiện sự thiếu tu dưỡng bản thân, coi thường pháp luật. Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện Lộc Bình.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về nhân thân: Trước lần phạm tội này, bị cáo Bế Văn D đã có 01 tiền sự tại Quyết định áp dụng biện pháp xủ lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 37/QĐ-TA ngày 16/10/2023 của Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn với thời hạn 18 tháng (chưa chấp hành xong); bị xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2014/HSST ngày 28/4/2014 của Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (đã được xoá án tích), bị xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 36/QĐ-XPVPHC ngày 05/4/2017 của Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn (đã được xoá vi phạm), là người có nhân thân không tốt.

Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và bồi thường xong toàn bộ thiệt hại, có con nhỏ (sinh năm 2019) cần sự nuôi dưỡng, chăm sóc của bị cáo nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ phần nào hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh thể hiện bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại ông Hoàng Văn N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hoàng Văn H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, nhận đủ số tiền bồi thường, sửa chữa hư hỏng của xe mô tô và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra ra quyết định trả lại vật chứng là 01 (một) môtô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, không có gương chiếu hậu, số máy: JA39E2814210, số khung: RLHJA3923NY400926, xe đã hư hỏng ổ khóa điện và gãy lẫy cốp xe; 01 (một) biển kiểm soát xe mô tô mang số 12L1-30147, đã bị bẻ cong; 01 (một) giá baga phía trước xe mô tô, bằng kim loại, kích thước 46cm x 14cm cho chủ sở hữu hợp pháp là bị hại ông Hoàng Văn N là đúng quy định, do đó Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với 01 (một) thanh kim loại hình trụ dài 12,5cm, đường kính 1,2cm, một đầu nhọn được mài dũa dài 2,2cm, một đầu được mài dũa dẹt hai bên dài 1,5 cm là công cụ mà bị cáo sử dụng để phạm tội cần tịch thu tiêu huỷ.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo Bế Văn D là người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Trước khi xét xử, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong toàn bộ thiệt hại là tiền sửa chữa hư hỏng của xe cho bị hại ông Hoàng Văn N nên bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm f khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm theo Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 292, Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tội danh:

Tuyên bố bị cáo Bế Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Hình phạt:

Xử phạt bị cáo Bế Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 19/4/2025.

3. Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) thanh kim loại hình trụ dài 12,5cm, đường kính 1,2cm, một đầu nhọn được mài dũa dài 2,2cm, một đầu được mài dũa dẹt hai bên dài 1,5 cm.

(Vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/6/2025)

4. Án phí:

Bị cáo Bế Văn D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ