- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn L cùng đồng bọn - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày: 21 - 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ,TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Tiến Dũng.
Ông Trần Đình Văn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Phương – là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Đinh Quốc Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/HSST ngày 14/ 2/2025, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 256/2025/HSST- QĐ ngày 31 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Lê Văn L, sinh ngày 10 tháng 12 năm 1995; Nơi thường trú: thôn X, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Nơi ở hiện tại: thôn T xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Không;Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con oâng: Lê Văn L1 ( chết ) và bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1965; Vợ: Trần Thị V, sinh năm 1996: Con: 01 đứa, sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự : Không.
Nhân thân: Bị can đang bị khởi tố điều tra trong vụ án khác theo Quyết định khởi tố vụ án số 53/QĐ-CSHS cùng Quyết định khởi tố bị can số 158/QĐ-CSHS ngày 01/10/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P, tỉnh Bình Định về tội Trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị bắt tạm giam: Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/9/2024 tại Phân trại tạm giam khu vực P. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.
2. Đào Thanh H, sinh ngày 10 tháng 01 năm 1989; Nơi thường trú: thôn X, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Nơi ở hiện tại: thôn X, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Mua bán cây giống; Trình độ văn hóa ( học vấn ): 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con oâng: Đào Thanh B, sinh năm 1957 và bà Lê Thị Bích T1, sinh năm 1960; Vợ: Lữ Thị L2, sinh năm: 1992; Con: 01 đứa, sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không ;.
Nhân thân: Bị can đang bị khởi tố điều tra trong vụ án khác theo Quyết định khởi tố vụ án số 53/QĐ-CSHS cùng Quyết định khởi tố bị can số 159/QĐ-CSHS ngày 01/10/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P, tỉnh Bình Định về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 20/9/2024 cho đến ngày 19/12/2024 được áp dụng bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
3. Phạm Thành Đ, sinh ngày 09 tháng 09 năm 1982; Nơi thường trú: kp C, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; Nơi ở hiện tại: kp C phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Sửa xe máy; Trình độ văn hóa ( học vấn ): 08/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con oâng: Phạm Văn T2, sinh năm 1949 và bà Lê Thị M ( chết );Vợ: Phan Thị T3 sinh năm: 1986: Con: 02 đứa,lớn nhất sinh năm 2008; nhỏ nhất, sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không.Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
-Bị hại:
1.Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1970 và Ông Bùi Văn T4, sinh năm 1969; Đồng địa chỉ: Thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định( vắng mặt ).
2. Anh Đặng Lê Đăng H2, sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định( vắng mặt ).
3. Chị Phạm Thị Thúy T5, sinh năm 1988 và anh Phạm Văn A, sinh năm 1980 ; Đồng Địa chỉ: Thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định( vắng mặt ).
4. Ông Bùi Quang K, sinh năm 1966 ; Địa chỉ: Thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định ( Có đơn xét xử vắng mặt ).
5. Chị Trần Thị L3, sinh năm 1995 và ông Lê Đức H3, sinh năm 1951; Đồng Địa chỉ: Thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định( vắng mặt ).
6. Bà Võ Thị Kim L4, sinh năm 1972 và ông Nguyễn Minh S, sinh năm 1963; Đồng địa chỉ: Thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định ( Có đơn xét xử vắng mặt ).
7. Bà Nguyễn Thị Mai X, sinh năm 1976 và ông Trần Văn T6, sinh năm 1966; Đồng địa chỉ: Thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định( vắng mặt ).
8. Ông Lê Văn T7, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định( vắng mặt ).
9. Ông Nguyễn S1, sinh năm 1966; Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định( vắng mặt ).
10. Bà Trần Thị R, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định( vắng mặt ).
11. Ông Đoàn Đức D, sinh năm 1968 và Đoàn Thị Mỹ H4; Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định( vắng mặt ).
12. Đoàn Thị L5, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định( vắng mặt ).
13. Nguyễn Quang M1, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định ( Có đơn xin xét xử vắng mặt ).
14. Bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1967 và anh Nguyễn Duy T8, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định( Có đơn xin xét xử vắng mặt ).
15. Đoàn Đức L6, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định( vắng mặt ).
16. Anh Nguyễn Hữu T9, sinh năm 1993 và anh Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định ( vắng mặt ).
17. Ông Nguyễn Đình P, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định( vắng mặt ).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị T10, sinh năm 1973; Địa chỉ: Khu phố D, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định( Có đơn xin xét xử vắng mặt ).
2. Anh Dương Văn A1, sinh năm 1993; Địa chỉ: G T,phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định( vắng mặt ).
3. Anh Nguyễn Văn H5 , sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ E, khu V, N, thành phố Q, tỉnh Bình Định( vắng mặt ).
4. Anh Đặng Thành D1 , sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ C, khu V, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định( vắng mặt ).
5. Anh Nguyễn Ngọc M2, sinh năm 1990; Địa chỉ: Tổ E, khu V, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định( Có đơn xin xét xử vắng mặt ).
6. Anh Nguyễn Minh T11, sinh năm 1990; Địa chỉ: thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Địn( vắng mặt ).
7. Anh Võ Văn H6, sinh năm 1950; Địa chỉ: 2 H, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định( vắng mặt ).
8. Bà Phạm Thị H7, sinh năm 1943; Địa chỉ : Khu V, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định( vắng mặt ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ đầu năm 2024, Lê Văn L thất nghiệp ở nhà và không có nguồn thu nhập nào để nuôi sống gia đình nên L nảy sinh ý định trộm cắp xe máy của người dân sở hở để bán lấy tiền. Trong thời gian từ ngày 28/03/2024 đến ngày 19/9/2024, L đã thực hiện 18 vụ trộm cắp xe máy trên địa bàn xã M, huyện P, tỉnh Bình Định, sau đó bán lại cho Đào Thanh H, Lê Thành Đ1 và một số người để lấy tiều tiêu xài cá nhân. Đào Thanh H, Phạm Thành Đ mặc dù biết được tài sản của L đem bán do phạm tội mà có nhưng vẫn mua để bán lại thu lợi bất chính, cụ thể: Lần thứ nhất, khoảng 16 giờ ngày 28/3/2024, L đến khu vực đồng Đập Đá thuộc thôn B, xã M thì thấy xe mô tô biển số 77X4- 2415 của bà Phạm Thị H1 sinh ngày 10/01/1970, trú thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (xe này do chồng bà H1 là ông Bùi Văn T4, sinh ngày 01/01/1969, trú thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định đứng tên chủ sở hữu) đang dựng trước cổng ngõ khu nhà hoang, bên trong có trồng đậu đen trong tình trạng còn gắn chìa khóa trên xe. L đi đến bật chìa khóa khởi động xe rồi điều khiển xe về Chợ Đập Đá gửi tại một điểm gửi xe trong chợ rồi đi về nhà. Qua ngày hôm sau, L chụp hình xe rồi sử dụng tài khoản facebook “Chuyên đồ cũ” của L để đăng tải lên mạng facebook rao bán. Lúc này, Phạm Thành Đ dùng tài khoản facebook “Khải P1” nhắn tin thỏa thuận mua với giá 3.200.000 đồng. Khi thỏa thuận, L nói cho Đ biết là xe không có giấy tờ và không biển số, Đ biết là xe không hợp pháp nhưng vì giá rẻ nên Đ vẫn mua, không cần hỏi nguồn gốc xe. Sau khi thỏa thuận thống nhất thì L gửi xe khách ra Tam Quan cho Đ nhận rồi Đ gửi tiền mua xe lại cho xe khách để giao cho L. Sau khi mua xe về thì Đ lấy một biển số của xe khác gắn vào và đục, cà mờ số máy, số khung cho phù hợp để bán cho Lê Thành T12 (sinh năm 1961 ở K. Cữu Lợi, phường T18, Tx. H) được 5.500.000 đồng. Tại Bản kết luận định giá tài sản: số 50/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận xe mô tô nhãn hiệu WAVE, 77X4- 2415, có giá: 6.750.000 đồng. Lần thứ hai, vào chiều ngày 16/4/2024, L đến khu vực đang thi công đường cao tốc thuộc địa phận thôn V, xã M huyện P thì thấy xe mô tô biển số 77D1 – 445.74, loại xe jupiter của anh Đặng Lê Đăng H2 (sinh năm 1995, trú thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định) đang dựng lề phía Đông đường cao tốc trong tình trạng còn gắn chìa khóa trên xe không có người trông coi. Thấy vậy, L lén lút đi đến ngồi lên xe bật chìa khóa nổ máy rồi điều khiển xe chạy về gửi xe tại một điểm gửi xe trong chợ Đập Đá. Qua ngày hôm sau, L chụp hình xe rồi sử dụng tài khoản facebook “Chuyên đồ cũ” của L để đăng tải lên mạng facebook rao bán thì có một tài khoản facebook (L không nhớ tên) nhắn tin thỏa thuận hỏi mua. Khi thỏa thuận thì L chỉ báo là xe không giấy tờ chứ không nói rõ nguồn gốc xe như thế nào và thống nhất giá bán là 3.600.000 đồng. Sau đó, L tháo biển số 77D1 – 445.74 đem đi cất dấu, sau này gắn vào 01 xe trộm khác để bán rồi lấy 01 biển 04 số khác (Lực không nhớ rõ chỉ nhớ là biển số xe của một xe trộm khác) gắn vào để bán và hẹn giao xe tại gần Siêu thị A2 thì biết người mua là một thanh niên nhưng L không rõ nhân thân, lai lịch như thế nào. Tại Bản kết luận định giá tài sản: số 50/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận G – 445.74, loại xe jupiter có giá: 12.500.000 đồng. Lần thứ ba, khoảng 13 giờ 55 phút ngày 11/5/2024, L đến khu vực phía đang thi công đường cao tốc thuộc địa phận thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. Lúc này, L thấy phía đông cách đường cao tốc khoảng 100m có đường bê tông có xe mô tô biển số 77D1-78471, loại surius của bà Phạm Thị Thúy T5, sinh năm 1988, trú thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (xe này do chồng bà T5 là ông Phạm Văn A, sinh ngày 15/06/1980, trú thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định đứng tên chủ sở hữu) không ai trông coi. L lén lút đi đến rút dây bình và nổ máy xe điều khiển chạy về ngã tư G thuộc Tx. A. Sau đó, L chụp ảnh xe và kiểm tra xe thì thấy bên trong cốp xe có giấy đăng ký xe và một số giấy tờ tùy thân của bà T5 nên L lấy giấy đăng xe rồi vứt các giấy tờ còn lại ven đường rồi chạy xe về Chợ Đ để gửi. Lực chụp hình xe, dăng tải lên mạng facebook rao bán thì có tài khoản facebook “Nguyễn Thị T13” của bà Nguyễn Thị T10 (sinh năm 1973, trú K, P. B, TX. H, tỉnh Bình Định) nhắn tin thỏa thuận hỏi mua. Khi thỏa thuận, L nói xe có giấy tờ và thống nhất giá 12.000.000đ chứ không nói gì đến nguồn gốc xe, bà T10 đồng ý mua và hẹn giao dịch tại gần chùa T19. Sau đó, bà T10 thuê xe tải vào nhận xe đem về để tại nhà và tiếp tục đăng lên mạng rao bán thì có anh Võ Ngọc P2 (sinh năm 1988, trú K. Ca Công, P. H, TX. H, tỉnh Bình Định) đến mua lại, sau đó P2 tiếp tục bán lại cho anh Phan Phú T14 (sinh năm 1999, trú thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định). Tại Bản kết luận định giá tài sản: số 42/KL-HĐĐGTS ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius có giá: 17.000.000 đồng. Lần thứ bốn, khoảng 14 giờ ngày 15/6/2024, L đến phía bắc cầu Vạn Thiện thì thấy dưới đường mòn ở dọc sông L có xe mô tô biển số 77D1- 226.12, loại xe Wave RSX, nhãn hiệu HonDa của anh Bùi Quang K (sinh năm 1966, trú thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định đang) dựng dưới sông không có người trông coi. L lén lút đi đến dùng đoản mang theo bẻ khóa nổ máy rồi điều khiển chạy về Chợ Đ2 Đá gửi. Trước khi gửi thì L kiểm tra cóp xe thì có số tiền 5.820.000 đồng và một số giấy tờ của xe và chủ xe. Lúc này, L lấy tiền tiêu xài và chụp hình xe, các giấy tờ xe gửi cho tài khoản của bà Nguyễn Thị T10, để rao bán. Khi thỏa thuận, L nói xe có giấy tờ và thống nhất giá 8.000.000đ chứ không nói gì đến nguồn gốc xe, bà T10 đồng ý mua và hẹn giao dịch tại A. Qua ngày hôm sau, bà T10 liên hệ xe tải đến điểm hẹn ở A để nhận xe và giao tiền cho L. Sau khi đem xe về thì bà T10 bán lại cho anh Đặng Hữu K2, (sinh năm 1991, trú thôn T, xã D, huyện M, tỉnh Gia Lai). Tại Bản kết luận định giá tài sản: số 50/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX có giá: 7.000.000 đồng. Lần thứ năm, khoảng 15 giờ ngày 19/6/2024, L đến khu vực đồng ruộng ở thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. Khi đi đến đồng ruộng gần nơi giao nhau giữa đường cao tốc và đường tây tỉnh (ĐT638) thì thấy xe mô tô biển số 77N2 – 1605, loại xe Wave alpha cũ, màu xám đen của bà Trần Thị L3, sinh năm 1995, trú thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (xe này do chồng bà L3 là ông Lê Đức H3, sinh ngày 01/01/1951, trú V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định đứng tên chủ sở hữu) đang dựng ở dưới mép đường cao tốc không có người trông coi. Lực lén lút đi tới dùng đoản bẻ khóa rồi điều khiển xe chạy về gửi xe tại Chợ Đ4. Sau đó, L chụp hình gửi cho facebook “ Đào Thanh H” của Đào Thanh H để rao bán với số tiền 2.400.000 đồng và hẹn giao xe tại trước khách sạn Anh P3, Phù Cát . Khi bán thì L và H không nói gì về nguồn gốc xe nhưng H hiểu là xe trộm cắp do xe này bị bẻ khóa và không có giấy tờ. Sau khi mua về thì H rả bán phụ tùng cho nhiều người không rõ lai lịch qua mạng chỉ còn lại khung xe, biển số.
Tại Bản kết luận định giá tài sản: số 46/KL-HĐĐGTS ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave màu xám đen, có giá 6.000.000 đồng. Lần thứ sáu, khoảng 08 giờ ngày 24/6/2024, L đến khu vực đồng ruộng phía Đông đường cao tốc thuộc địa phận thôn V, xã M huyện P, tỉnh Bình Định thì thấy xe mô tô biển số 77D1-236.75, loại surius, nhãn hiệu yamaha, màu sơn đen đỏ của bà Võ Thị Kim L4, sinh năm 1972, trú thôn V, xã M huyện P, tỉnh Bình Định (xe này do chồng bà L4 là ông Nguyễn Minh S, sinh ngày 06/8/1963, trú thôn V, xã M huyện P, tỉnh Bình Định đứng tên chủ sở hữu) đang dựng tại đường bê tông không có người trông coi. Lực lén lút đi tới rút dây bình nhưng thấy chìa khóa để trong cốp xe nên L dắt ra và nổ máy chạy về Chợ Đập Đá gửi xe. Sau đó, L chụp hình gửi cho Phạm Thành Đ để rao bán. Khi thỏa thuận, L chỉ nói cho Đ biết là xe không có giấy tờ và không biển số chứ không nói rõ nguồn gốc xe như thế nào và Đ biết là xe không hợp pháp nhưng vì giá rẻ nên Đ vẫn mua, không cần hỏi nguồn gốc xe. Sau khi thống nhất giá 3.000.000đ thì L lấy biển số 77AD-063.47 của một xe trộm trước đó gắn vào xe này rồi gửi xe khách ra Tam Quan cho Đ nhận rồi Đ gửi tiền mua xe lại cho xe khách để giao cho L. Sau khi mua xe về thì Đ bán cho Nguyễn Thị H8 (sinh năm 1971, trú K. T, P. Tam Quan N, Tx. H) được 6.000.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản: số 32/KL-HĐĐGTS ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen có giá: 8.500.000 đồng.
Lần thứ bảy, vào sáng ngày 29/6/2024, L đến khu vực đang thi công đường cao tốc thuộc thôn V, xã M huyện P, tỉnh Bình Định. Khi đến đoạn đồng thì thấy trên đường bê tông ở phía đông có xe mô tô biển số 77D1-098.43, loại xe Wave RSX, màu sơn vàng – đen – bạc của bà Nguyễn Thị Mai X, sinh năm 1976, trú thôn V, xã M huyện P, tỉnh Bình Định (xe này do chồng bà X là ông Trần Văn T6, sinh ngày 26/03/1966, trú thôn V, xã M huyện P, tỉnh Bình Định đứng tên chủ sở hữu) không có người trông coi. L lén lút đi đến dùng đoản mang theo bẻ khóa rồi điều khiển chạy vào Tx. A. Sau đó, L chụp hình gửi cho Đào Thanh H để rao bán với số tiền 2.300.000 đồng. Khi bán thì L và H không nói gì về nguồn gốc xe nhưng H hiểu là xe trộm cắp do xe này bị bẻ khóa và không có giấy tờ. Sau khi thống nhất giá thì L và H hẹn giao xe trực tiếp tại dưới ngã 4 G và sau khi mua về thì H rả bán phụ tùng cho nhiều người không rõ lai lịch qua mạng chỉ còn lại sườn xe.
Tại Bản kết luận định giá tài sản: số 46/KL-HĐĐGTS ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, màu sơn vàng, đen, bạc có giá: 7.750.000 đồng. Lần thứ tám, khoảng 16 giờ 30 phút ngày 03/7/2024, L đến đồng ruộng thôn T, xã M thì thấy xe mô tô biển số 77S1- 5370, loại xe Dream cũ, màu sơn nâu của ông Lê Văn T7 ( sinh năm 1968, trú thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định) đang dựng gần mương nước trong tình trạng còn gắn chìa khóa trên xe, không có người trông coi. Lực lén lút đi tới bật chìa khóa nổ máy điều khiển xe chạy về chợ Đ4 Đá gửi. Qua ngày hôm sau, L chụp hình xe rồi sử dụng tài khoản facebook “Chuyên đồ cũ” của L để đăng tải lên mạng facebook rao bán. Lúc này, có tài khoản facebook “Sống chậm lại” của anh Nguyễn Ngọc M2 (sinh năm 1990, trú Tổ E, KP.3, P. T, TX. H, tỉnh Bình Định) nhắn tin thỏa thuận hỏi mua. Khi thỏa thuận, L chỉ nói xe không có giấy tờ chứ không nói gì đến nguồn gốc xe và hai bên thống nhất với giá tiền 1.100.000đ. Sau đó, L gửi xe khách (L không rõ biển số) ra T cho M2 nhận và giao tiền lại lại cho nhà xe. Sau khi nhận xe thì M2 sửa chữa thay lại bộ máy và bán cho một người không rõ lai lịch.
Tại Bản kết luận định giá tài sản: số 50/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận xe mô tô nhãn hiệu SKYWAVE, số loại C100, màu nâu có giá: 2.000.000 đồng.
Lần thứ chín, khoảng 8 giờ 00 phút ngày 13/7/2024, L đón xe khách 16 chỗ (không xác định biển số xe) đi từ thị xã A đến trước trại nuôi ốc của anh Thái Thanh T15 (sinh năm 1979, trú thôn Đ, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định) thì thấy xe mô tô loại xe surius, màu trắng, nhãn hiệu yamaha 77D1 – 381.14 có gắn chìa khóa trên xe, không có người trông coi. Lực lén lút đến bật chìa khóa nổ máy điều khiển xe rồi chạy về chợ Đ4 Đá gửi, khi kiểm tra trong cốp xe thấy có số tiền 2.000.000đ thì L lấy số tiền này tiêu sài. Sau đó, L chụp ảnh xe gửi cho Đào Thanh H để rao bán với số tiền 2.100.000đ. Khi bán thì L và H không nói gì về nguồn gốc xe nhưng H hiểu là xe trộm cắp do xe này bị bẻ khóa và không có giấy tờ. Sau khi thống nhất giá thì L và H hẹn giao xe trực tiếp tại dưới ngã 4 G và sau khi mua về thì H rả bán phụ tùng cho nhiều người không rõ lai lịch qua mạng chỉ còn lại biển số xe.
Tại Bản kết luận định giá tài sản: số 46/KL-HĐĐGTS ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Sirius, màu sơn trắng xanh BKS 77D1-381.14, có giá: 8.250.000 đồng. Lần thứ mười, khoảng 13 giờ 30 phút ngày 19/8/2024, L đến khu vực đồng ruộng thuộc thôn Đ, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định thì thấy mô tô biển số 77M9 -9758, loại xe Dream, màu sơn nâu, nhãn hiệu HAMCO, của ông Nguyễn S1 (sinh năm 1966, trú thôn Đ, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định) đang dựng tại đoạn đường đất, còn gắn chìa khóa trên xe, không có người trông coi. Lực lén lút đến bật chìa khóa nổ máy điều khiển xe chạy về chợ Đ4 Đá gửi. Qua ngày hôm sau, L chụp ảnh xe rồi đăng tải lên mạng facebook rao bán thì có tài khoản facebook (L không nhớ rõ) nhắn tin hỏi mua với số tiền 1.100.000đ. Khi bán thì L cũng không nói cho người mua biết là xe trộm cắp.
Tại Bản kết luận định giá tài sản: số 46/KL-HĐĐGTS ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận xe mô tô nhãn hiệu HAMCO, loại xe nữ (Dream), màu nâu, BKS 77M9-9758 có giá: 2.500.000 đồng. Lần thứ mười một, khoảng 16 giờ 00 phút ngày 28/8/2024, L đến khu vực đồng ruộng thuộc thôn B, xã M, huyện P thì thấy xe mô tô biển số 77S5-6564, loại Wave anlpha Trung Quốc cũ, màu xanh của bà Trần Thị R (sinh năm 1972, trú B, xã M, huyện P) đang dựng gần đường bê tông còn gắn chìa khóa trên xe, không có người trông coi. Lực lén lút đi đến bật chìa khóa, nổ máy điều khiển xe chạy về chợ Đ4, A gửi. Qua ngày hôm sau, L chụp ảnh rồi đăng tải lên mạng facebook rao bán thì có anh Nguyễn Minh T11 (sinh năm 1990, trú thôn T, xã N, TX. A, tỉnh Bình Định) nhắn tin hỏi mua. Lúc này, L chỉ nói xe không có giấy tờ và báo giá để bán chứ không nói gì về nguồn gốc xe và T11 không biết đó là xe trộm cắp. Sau khi thống nhất giá 800.000 đồng thì hẹn tại phường Đ, A sau khi mua về thì T11 tiếp tục bán lại cho một người không xác định được trên mạng xã hội zalo. Tại Bản kết luận định giá tài sản: số 50/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận xe mô tô nhãn hiệu SEASPORTS, số loại 110BC2 (Wave) màu xanh, BKS 77S5-6564 có giá: 2.000.000 đồng. Lần thứ mười hai, khoảng 16 giờ 00 phút ngày 04/9/2024, L đến đoạn gần cầu Đ thuộc thôn Đ, xã M, huyện P thì thấy ở bờ suối gần có xe mô tô biển số 77AC-02368, loại xe sirius, màu vàng - đen, nhãn hiệu saki karik của anh Đoàn Đức D (sinh năm 1982, trú thôn Đ, xã M, huyện P) còn gắn chìa khóa trên xe, không có người trông coi. Lực lén lút đi đến bật chìa khóa, nổ máy và điều khiển xe chạy về A rồi chụp ảnh gửi cho Đào Thanh H để rao bán với số tiền 2.500.000đ. Khi bán thì L và H cũng không nói gì về nguồn gốc xe nhưng H tự hiểu đó là xe trộm cắp, khi giao xe thì L cũng lấy biển số khác gắn vào nhưng hiện không nhớ biển số gì còn biển số 77AC-023.68 thì ném đi. Sau đó H rả bán phụ tùng cho nhiều người qua mạng, hiện chỉ còn 01 lốc máy.
Tại Bản kết luận định giá tài sản: số 46/KL-HĐĐGTS ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận xe mô tô nhãn hiệu SAKI MOTOR KARIK-S, màu đen, BKS 77AC-023.68 có giá: 5.500.000 đồng. Lần thứ mười ba, khoảng 16 giờ 00 phút ngày 05/9/2024, L đến khu vực đồng ruộng thuộc thôn A, xã M, huyện P thì thấy xe mô tô biển số 77H5-5009, loại xe Wave Trung Quốc của bà Đoàn Thị L7 (sinh năm 1972, trú thôn A, xã M, huyện P tỉnh Bình Định) còn gắn chìa khóa trên xe, không có người trông coi. Lực lén lút đi đến bật chìa khóa nổ máy điều khiển xe chạy về cất giấu tại nhà để sử dụng đi lại. Đến khoảng 08 giờ ngày 19/09/2024, L điều khiển xe mô tô 77H5-5009 đi từ nhà đến khu vực chợ Đ4 Đá gởi xe tại nhà Phạm Thị H7, sinh ngày 09/09/1943, trú KV. Đông Phương D2, P. Đ, TX. A rồi đón xe khách ra huyện P để trộm cắp tài sản thì bị bắt giữ.
Tại Bản kết luận định giá tài sản: số 50/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận xe mô tô nhãn hiệu SAVI, BKS 77H5-5009 có giá: 2.000.000 đồng. Lần thứ mười bốn, khoảng 10 giờ 00 phút ngày 05/9/2024, L đến đoạn đường QL1A phía Nam cầu T (gần rạp cưới Khoa) thuộc thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định thì xuống xe rồi đi bộ xuống khu vực đồng ruộng phía Đông QL1A theo đường đất, sau đó đi bô vô hướng Nam đến đoạn đồng ruộng cách đường QL1A khoảng 300m thì thấy xe mô tô biển số 77D1-146.53, loại Future, màu xám đen vàng, nhãn hiệu HonDa của anh Nguyễn Quang M1, sinh ngày 19/4/1975, trú thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định đang dựng trong tình trạng còn gắn chìa khóa trên xe. Lúc này, L quan sát xung quanh thấy không có ai nên đi đến bật chìa khóa, nổ máy và điều khiển xe chạy lên đường Quốc lộ 1A rồi chạy về chợ Đ4 Đá gửi. Sau đó, L chụp hình gửi cho Phạm Thành Đ để rao bán. Khi thỏa thuận, L nói cho Đ biết là xe không có giấy tờ và không biển số, Đ biết là xe không hợp pháp nhưng vì giá rẻ nên Đ vẫn mua, không cần hỏi nguồn gốc xe. Sau khi thống nhất giá 2.500.000đ thì L tháo biển số ra cất dấu rồi gửi xe khách ra Tam Quan cho Đ nhận rồi Đ gửi tiền mua xe lại cho xe khách để giao cho L.
Tại Bản kết luận định giá tài sản: số 50/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại FUTURE, màu xám- đen- vàng, BKS 77D1-146.53 có giá: 10.250.000 đồng. Lần thứ mười lăm, khoảng 14 giờ 00 phút ngày 12/9/2024, L đến khu vực đồng ruộng phía Đông QL1A thuộc thôn Đ, xã M, huyện P thì thấy xe mô tô biển số 77Y2-4297, loại xe jupiter, màu đỏ, nhãn hiệu yamaha của bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1967, trú thôn Đ, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (xe này do con trai bà K1 là Nguyễn Duy T8, sinh ngày 17/08/1986, trú thôn Đ, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định đứng tên chủ sở hữu) không ai trông coi. Lực lén lút đi đến phá khóa và điều khiển xe chạy về Tx. An Nhơn chụp hình rao bán trên mạng thì anh Đặng Thành D1 (sinh năm 1993, trú Tổ C, KV. 7, P. T, TP .) nhắn tin hỏi mua. Khi thỏa thuận mua bán thì L chỉ nói xe mua phế liệu nên không có giấy tờ chứ không nói rõ nguồn gốc xe như thế nào và D1 cũng không biết là xe trộm cắp. Sau khi thống nhất giá 1.500.000đ thì D1 lấy hình ảnh xe đăng lên tài khoản facebook của mình để tiếp tục rao bán cho anh Nguyễn Văn H5 (sinh năm 1993, trú Tổ E, KV.4, P. N, TP .) được 1.900.000 đồng. Sau khi thống nhất thì D1 chở H5 đến An nhơn gặp L giao dịch xe. Lúc này, L lấy biển số 77D1-146.53 gắn vào còn biển số 77Y2-4297 thì L bỏ tại bụi tre chỗ nghĩa địa dưới ngã 4 Gò Găng khoảng 200m.
Tại Bản kết luận định giá tài sản: số 50/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại GRAVITA màu đỏ đen BKS 77Y2-4297 có giá: 7.000.000 đồng. Lần thứ mười sáu, khoảng 16 giờ 30 phút ngày 17/9/2024, L đoạn đồng ruộng thuộc thôn Đ, xã M thì thấy xe mô tô biển số 77D1-32825, loại jupiter, màu sơn trắng – đen đi hái nấm keo (xe này do cha của H8 là ông Đoàn Đức C, sinh ngày 06/8/1968, trú thôn Đ, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định đứng tên chủ sỡ hữu). Lúc này, L canh lúc bà H8 dựng xe đi hái nấm keo không chú ý thì L đi đến phá khóa và điều khiển xe đi về A gửi và chụp hình đăng lên mạng xã hội facebook để rao bán cho anh Dương Văn A1, (sinh năm 1993, trú G T, P. Q, Tp .) nhắn tin hỏi mua. Khi thỏa thuận mua bán thì L nói xe bị mất giấy tờ và đang kẹt tiền nên bán chứ không nói rõ nguồn gốc xe như thế nào và A1 cũng không biết đó là xe trộm cắp nên mua về sử dụng. Sau khi thống nhất giá 2.500.000đ thì hẹn giao xe tại gần Bến xe Q và khi bán thì L gắn biển số 72N1-4735 vào để giao cho A1 còn biển số 77D1-32825 thì tháo ném xuống cầu B, Phù Cát .
Tại Bản kết luận định giá tài sản: số 44/KL-HĐĐGTS ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, màu sơn trắng đen, BKS 77D1-328.25 có giá 7.000.000 đồng. Lần thứ mười bảy, khoảng 8 giờ 00 phút ngày 17/9/2024, L khu đồng ruộng thuộc thôn B, xã M, huyện P, thì thấy trên đường bê tông gần sông L thì thấy Nguyễn Hữu T9, sinh ngày 01/4/1993, trú thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định đang điều khiển xe mô tô biển số 77H1-1716, loại xe wave anlpha Trung Quốc, màu xanh đen (xe này do cha T9 là ông Nguyễn Xuân Q, sinh ngày 10/02/1958, trú thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định đứng tên chủ sở hữu) đi xuống Sông La T16 và dựng ở đường xuống sông L nhưng gắn chìa khóa trên xe. Lúc này, L canh lúc T9 không để ý thì đi đến bật chìa khóa, nổ máy điều khiển xe chạy theo hướng về thôn A, xã M rồi lên Quốc lộ A về A bán cho Đào Thanh H với số tiền 1.800.000 đồng. Khi thỏa thuận mua bán thì L nói xe này có giấy nhưng khi H hỏi L giấy chuẩn hay hay giấy giả thì L nói không biết nên H nghĩ cũng là xe trộm cắp như những lần trước và sau khi mua về thì H để tại nhà trọ. Tại Bản kết luận định giá tài sản: số 44/KL-HĐĐGTS ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận xe mô tô nhãn hiệu EMPRIRE loại xe nữ, màu xanh, BKS 77H1-1716 có giá 2.100.000 đồng.
Lần thứ mười tám, khoảng 08 giờ ngày 19/9/2024, L đến khu vực đồng ruộng thuộc thôn T, xã M, huyện P thì thấy xe mô tô nhãn hiệu Damsan, mang biển kiểm soát 77M4 – 7396 của ông Nguyễn Đình P, sinh ngày 06/8/1975, trú thôn T, xã M, huyện P) đang để ở sát bờ suối, không ai trông coi. L lến lút đến rút dây bình rồi mở khóa và điều khiển xe mô tô chợ Đập Đá. Đến 14 giờ cùng ngày, L tiếp tục đến địa bàn M để trộm cắp xe mô tô. Khi đến đối diện Hợp tác xã M3 cũ, L giả dạng người cầm ná bắn chim đi bộ từ đường Quốc lộ xuống hướng Đông tìm kiếm các xe máy để lấy trộm. Lúc này, người dân thấy L lạ mặt nên nghi ngờ đến hỏi chuyện. L sợ bị phát hiện nên bỏ chạy. Người dân ở khu vực này rượt đuổi, giữ L lại và đưa về Công an xã M để giải quyết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản: số 44/KL-HĐĐGTS ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận xe mô tô nhãn hiệu DAMSAN, loại xe nữ, màu nâu, BKS 77M4-7396 có giá 1.750.000 đồng. Vật chứng của vụ án:
- 01 xe mô tô loại xe Wave alpha cũ, màu sơn xanh, gắn biển số 77S8-9642
nhưng thực tế là xe 77X4- 2415; 01 xe mô tô biển số 77D1-784.71; 01 xe mô tô biển số 77D1-226.12; 01 xe mô tô xe mô tô loại surius, nhãn hiệu yamaha, màu sơn đen đỏ gắn biển số 77AD-063.47 nhưng thực tế là xe 77D1-236.75; 01 xe mô tô biển số 77H1-5009; 01 xe mô tô biển số 77D1-146.53 nhưng xe thực tế 77Y2-4297; 01 xe mô tô loại Future, màu xám đen vàng, nhãn hiệu HonDa, không gắn biển số (thực tế là xe 77D1-146.53); 01 xe mô tô biển số 72N1-4735 nhưng xe thực tế là 77D1-328.25; 01 xe mô tô biển kiểm số 77H1-1716; 01 xe mô tô biển số 77M4 – 7396. Qua điều tra xác định đây là các tài sản hợp pháp của bị hại nên Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu.
- 01 xe mô tô BKS 77M2-3024; 01 xe mô tô BKS 77E1-38790; 01 xe mô tô BKS 54V4-5139; 01 xe mô tô BKS 77F1-1047. Qua điều tra đây là những tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị can Đào Thanh H nên Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã xử lý trả lại cho Đào Thanh H..
- 01 biển số 77D1-445.74; 01 biển số 77D1-098.43; 01 biển số 77D1- 381.14; 01 biển số 77N2-1605; 01 biển số 77F4-6010; 01 biển số 49P5-2147; 01 biển số 72N1-4735; 01 biển số 77S8-9642.
- 01 sườn xe mô tô có số khung RLHJC522SCY031170; 01 sườn xe mô tô có số khungRLHHC12139Y075831;01sườnxemô tô có số khung RLGXB10AD4D003260.
- 01 lốc máy xe mô tô có số máy: SKI1P39FMB-B102121; 01 lốc máy xe mô tô có số máy: HC12E-2145232; 01 lốc máy xe mô tô có số máy: CT100E1808376; 01 lốc máy xe mô tô có số máy: C50E-5427928; 01 lốc máy xe mô tô không tìm thấy số máy.
- 01 xe mô tô không rõ nhãn hiệu, không có biển số, số khung BE46C-TH113985, số máy E417- TH113985.
- 01 đôi dép nhựa màu trắng xanh, quai ngang, in logo chữ “NIKE” màu trắng, đã qua sử dụng; 01 bì nhựa màu trắng có quai xách, trên bì nhữa có in chữ “VINHH HẠNHH” màu xanh và các chữ số “0931234589”; 01 áo thun cổ tròn, màu xám đen; 01 quần jean, màu xám đen; 01 khẩu trang y tế; 01 Máy tính bảng nhãn hiệu Apple dòng máy iPad Air 2 màu xám tình trạng không mở được nguồn và không kiểm tra tình trạng bên trong); 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG, dòng máy A04 màu xanh đen, màn hình trước bị vỡ.
- Đối với các đồ vật: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại DREAM, màu đỏ đậm, gắn BKS 77F8-3742, số khung F04-070623-01, số máy VLFHMCT100-009680; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX màu đỏ đen, gắn BKS 77E1-07480, số khung BY203541, số máy JC43E6129697; 01 khung sườn xe mô tô có số khung RLGMC11HH9H003511; 01 lốc máy xe mô tô có số máy: 5C64-980040; 01 biển số 77F5-5156; 01 biển số 77S6-7829; 01 biển số 77H1-7667; 01 biển số 77M8-2239; 01 biển số 77FB-6914; 01 biển số 77E1-14750; 01 biển số 77E1-178.23; 01 biển số 77E1-026.97; 01 biển số 77X4-6076; 01 biển số 77AD-063.47 thu giữ tại nơi ở của bị cáo Đào Thanh H thì qua điều tra xác định đây là các vật chứng thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT Công an huyện P nên Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện P để làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với các đồ vật 01 xe mô tô không rõ nhãn hiệu, không có biển số, số khung RRKWCB2UM8XF05655, số máy VTT21YX1P39FMB005655; 01 sườn xe mô tô có số khung RLCS16S10AY076285; 01 biển số 77N4-4224; 01 biển số 77S8-7205; 01 biển số 77E1-01526; 01 biển số 77N4-5753 thu giữ tại nơi ở của bị cáo Đào Thanh H thì qua điều tra xác định đây là các vật chứng thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT Công an thị xã A nên Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã A để làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với 01 biển số xe 70F1-537.87 thu giữ tại nơi ở của bị cáo Đào Thanh H thì qua điều tra xác định đây là các vật chứng thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT Công an T20, TP . nên Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an T20, TP . để làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật. Về phần dân sự: Các bị hại Phạm Thị Thúy T5, Võ Thị Kim L4, Đoàn Thị L7, Nguyễn Quang M1, Nguyễn Thị K1, Đoàn Thị Mỹ H4, Nguyễn Hữu T9, Nguyễn Đình P đã nhận lại xe và không yêu cầu gì thêm. Bị hại Phạm Thị H1 đã nhận lại xe và 1.000.000 đồng tiền bồi thường từ bị can Đ nên không có yêu cầu, khiếu nại gì về dân sự. Các bị hại Lê Đức H3 đã nhận 8.000.000, Lê Văn T7 đã nhận 2.000.000, Nguyễn S1 đã nhận 2.500.000 đồng,Trần Thị R đã nhận 2.000.000 đồng đồng tiền bồi thường từ gia đình bị can L nên không có yêu cầu, khiếu nại gì về dân sự. Các bị hại Nguyễn Thị Mai X đã nhận 7.750.000 đồng, Thái Thanh T15 đã nhận 10.000.000 đồng, Đoàn Đức D đã nhận 8.000.000 đồng tiền bồi thường từ gia đình bị cáo L và H nên không có yêu cầu, khiếu nại gì về dân sự. Riêng đối với bị hại Bùi Quang K đã nhận lại xe và yêu cầu bị cáo L tiếp tục bồi thường số tiền 5.820.000 đồng để trong cốp xe; bị hại Đặng Lê Đăng H2 yêu cầu bị cáo L bồi thường 12.500.000 đồng. Ngày 10/4/2025 gia đình bị cáo L đã bồi thường cho bị hại Bùi Quang K bồi thường số tiền 5.820.000 đồng và bồi thường cho bị hại Đặng Lê Đăng H2 số tiền 12.500.000 đồng xong. Bị hại K và bị hại H2 đã bãi nại dân sự , không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKSPM ngày 13/2/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ đã truy tố bị cáo Lê Văn L về tội “ Trộm cắp tài sản” theo Điểm b,c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015; Truy tố các bị cáo Đào Thanh H, Phạm Thành Đ về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ’’theo khoản 1 Điều 323 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng và phát biểu luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng Điểm b, c khoản 2 Điều 173, Điểm b,s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Văn L từ 02 ( hai ) năm đến 02 ( hai ) năm 06 ( sáu ) tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo L không có thu nhập, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 323, Điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Đào Thanh H từ 06 ( sáu ) tháng đến 09 ( chín ) tháng tù.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 323, Điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52,Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Phạm Thành Đ từ 18 ( mười tám ) tháng đến 24 ( hai mươi bốn ) tháng cải tạo không giam giữ.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bị hại đã bãi nại dân sự , không có yêu cầu gì thêm nên không xét..
Vật chứng của vụ án : Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015 Tịch thu tiêu hủy:
- 01 biển số 77D1-445.74; 01 biển số 77D1-098.43; 01 biển số 77D1- 381.14; 01 biển số 77N2-1605; 01 biển số 77F4-6010; 01 biển số 49P5-2147; 01 biển số 72N1-4735; 01 biển số 77S8-9642.
- 01 sườn xe mô tô có số khung RLHJC522SCY031170; 01 sườn xe mô tô có số khungRLHHC12139Y075831;01sườnxemô tô có số khung RLGXB10AD4D003260.
- 01 lốc máy xe mô tô có số máy: SKI1P39FMB-B102121; 01 lốc máy xe mô tô có số máy: HC12E-2145232; 01 lốc máy xe mô tô có số máy: CT100E1808376; 01 lốc máy xe mô tô có số máy: C50E-5427928; 01 lốc máy xe mô tô không tìm thấy số máy.
- 01 xe mô tô không rõ nhãn hiệu, không có biển số, số khung BE46C-TH113985, số máy E417- TH113985.
- 01 đôi dép nhựa màu trắng xanh, quai ngang, in logo chữ “NIKE” màu trắng, đã qua sử dụng; 01 bì nhựa màu trắng có quai xách, trên bì nhữa có in chữ “VINHH HẠNHH” màu xanh và các chữ số “0931234589”; 01 áo thun cổ tròn, màu xám đen; 01 quần jean, màu xám đen; 01 khẩu trang y tế; 01 Máy tính bảng nhãn hiệu Apple dòng máy iPad Air 2 màu xám tình trạng không mở được nguồn và không kiểm tra tình trạng bên trong); 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG, dòng máy A04 màu xanh đen, màn hình trước bị vỡ.
Tại phiên tòa các bị cáo Lê Văn L; Đào Thanh H; Phạm Thành Đ nhận tội và không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố vụ án đúng quy định.
Tại phiên Tòa những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy chị Nguyễn Thị T10, anh Nguyễn Ngọc M2 có đơn xin xét xử vắng mặt và việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Nên Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử theo đúng qui định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Đối chiếu lời khai của bị cáo tại phiên Tòa cùng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đều hoàn toàn phù hợp. Hội đồng xét xử sơ thẩm có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 28/03/2024 đến ngày 19/9/2024, Lê Văn L đã thực hiện 18 vụ trộm cắp tài sản xe mô tô trên địa bàn xã M, huyện P, tỉnh Bình Định với tổng giá trị là 115.850.000 đồng để bán lấy tiền làm nguồn sống chính của bản thân. Trong đó, có 17 lần trộm cắp tài sản có giá trị trên 2.000.000 đồng và 01 lần trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng. Đào Thanh H, Phạm Thành Đ tuy không hứa hẹn trước nhưng biết rõ tài sản do Lê Văn L phạm tội mà có nhưng vẫn mua để bán lại thu lợi bất chính. Trong đó, bị cáo Đào Thanh H 05 lần tiêu thụ tài sản của L, bị cáo Phạm Thành Đ 03 lần tiêu thụ tài sản của L. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án phù hợp lời khai của bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án nội dung bản cáo trạng và diễn biến tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lê Văn L phạm tội “ Trộm cắp tài sản ” theo Điểm b,c Khoản 2 Điều 173 Bộ Luật hình sự. Các bị cáo Đào Thanh H và Phạm Thành Đ phạm tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có’’theo khoản 1 Điều 323 Bộ Luật hình sự. Do đó, cáo trạng truy tố các bị cáo Lê Văn L về tội “ Trộm cắp tài sản” theo Điểm b,c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015; Truy tố các bị cáo Đào Thanh H, Phạm Thành Đ3 tội“Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ’’theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo như sau.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên qui định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Quá trình điều tra và tại phiên Tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, các bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Các bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lê Văn L nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Trong vụ án các bị cáo Đào Thanh H, Phạm Thành Đ xâm phạm khách thể là trật tự công cộng, nguyên tắc trách nhiệm bồi thường là do bị cáo L bồi thường,tuy nhiên hậu quả xảy ra có phần trách nhiệm của các bị cáo và các bị cáo đã tự nguyện bồi thường nên cũng được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại điểm điểm b khoản 1 Điều 51 là phù hợp với tinh thần tại điểm e, tiểu mục 1.1, mục 1 của Nghị quyết 01/2006/NQ – HĐTP ngày 12/5/2006 của HĐTPTANDTC.
Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của các bị cáo, căn cứ vào tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo. Bị cáo Lê Văn L phạm tội nghiêm trọng, có tính chất chuyên nghiệp nên cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống. Đồng thời, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.Tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên thiết nghĩ giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Đào Thanh H phạm tội ít nghiêm trọng nhưng đang bị khởi tố trong vụ án khác nên cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhằm giáo dục cải tạo Tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên thiết nghĩ giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Đối với bị cáo Phạm Thành Đ phạm tội ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định ,có cô ruột là liệt sĩ, gia đình bị cáo có công với nước hoàn cảnh khó khăn, phạm tội nhất thời, thu lợi không đáng kể nên HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa là phù hợp.
[6] Đối với Nguyễn Thị T10, Đặng Thành D1, Nguyễn Văn H5, Dương Văn A1, Nguyễn Mạnh T17, Nguyễn Ngọc M2 có hành vi mua các xe mô tô do bị can L đem bán nhưng không biết tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.
[7] Việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu, tiêu hủy:
- 01 biển số 77D1-445.74; 01 biển số 77D1-098.43; 01 biển số 77D1- 381.14; 01 biển số 77N2-1605; 01 biển số 77F4-6010; 01 biển số 49P5-2147; 01 biển số 72N1-4735; 01 biển số 77S8-9642.
- 01 sườn xe mô tô có số khung RLHJC522SCY031170; 01 sườn xe mô tô có sốkhungRLHHC12139Y075831;01sườnxemôtôcósố khung RLGXB10AD4D003260.
- 01 lốc máy xe mô tô có số máy: SKI1P39FMB-B102121; 01 lốc máy xe mô tô có số máy: HC12E-2145232; 01 lốc máy xe mô tô có số máy: CT100E1808376; 01 lốc máy xe mô tô có số máy: C50E-5427928; 01 lốc máy xe mô tô không tìm thấy số máy.
- 01 xe mô tô không rõ nhãn hiệu, không có biển số, số khung BE46C-TH113985, số máy E417- TH113985.
- 01 đôi dép nhựa màu trắng xanh, quai ngang, in logo chữ “NIKE” màu trắng, đã qua sử dụng; 01 bì nhựa màu trắng có quai xách, trên bì nhữa có in chữ “VINHH HẠNHH” màu xanh và các chữ số “0931234589”; 01 áo thun cổ tròn, màu xám đen; 01 quần jean, màu xám đen; 01 khẩu trang y tế; 01 Máy tính bảng nhãn hiệu Apple dòng máy iPad Air 2 màu xám tình trạng không mở được nguồn và không kiểm tra tình trạng bên trong); 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG, dòng máy A04 màu xanh đen, màn hình trước bị vỡ.
[8 ]Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường cho các bị hại xong, các bị hại đã bãi nại dân sự, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết..
[ 9 ] Về đề nghị của Kiểm sát viên: Về tội danh, điều luật áp dụng, về hình phạt cho các bị cáo Lê Văn L, Đào Thanh H, Phạm Thành Đ là hoàn toàn phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.
[ 10 ] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên xử:
1. Căn cứ Điểm b, c khoản 2 Điều 173, Điểm b,s khoản 1, Khoản 2 Điều 51
Điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn L phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn L 02 ( hai ) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/9/2024.
Bị cáo L không có thu nhập, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 323, Điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Đào Thanh H phạm tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có’’.
Xử phạt bị cáo Đào Thanh H 08( tám ) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án nhưng trừ thời hạn tạm giam từ ngày 20/9/2024 cho đến ngày 19/12/2024.
3. Căn cứ khoản 1 Điều 323, Điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thành Đ phạm tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có’’.
Xử phạt bị cáo Phạm Thành Đ 24 ( Hai mươi bốn ) tháng cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo Phạm Thành Đ cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định nơi bị cáo đang cư trú quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát giáo dục bị cáo Đ.
Bị cáo Đ không có thu nhập, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
4. Về trách nhiệm dân sự : Các bị cáo đã bồi thường cho các bị hại xong, các bị hại đã bãi nại dân sự, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.
5. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
6. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015 Tịch thu tiêu hủy:
- 01 biển số 77D1-445.74; 01 biển số 77D1-098.43; 01 biển số 77D1- 381.14; 01 biển số 77N2-1605; 01 biển số 77F4-6010; 01 biển số 49P5-2147; 01 biển số 72N1-4735; 01 biển số 77S8-9642.
- 01 sườn xe mô tô có số khung RLHJC522SCY031170; 01 sườn xe mô tô có số khungRLHHC12139Y075831;01sườnxemô tô có số khung RLGXB10AD4D003260.
- 01 lốc máy xe mô tô có số máy: SKI1P39FMB-B102121; 01 lốc máy xe mô tô có số máy: HC12E-2145232; 01 lốc máy xe mô tô có số máy: CT100E1808376; 01 lốc máy xe mô tô có số máy: C50E-5427928; 01 lốc máy xe mô tô không tìm thấy số máy.
- 01 xe mô tô không rõ nhãn hiệu, không có biển số, số khung BE46C-TH113985, số máy E417- TH113985.
- 01 đôi dép nhựa màu trắng xanh, quai ngang, in logo chữ “NIKE” màu trắng, đã qua sử dụng; 01 bì nhựa màu trắng có quai xách, trên bì nhữa có in chữ “VINHH HẠNHH” màu xanh và các chữ số “0931234589”; 01 áo thun cổ tròn, màu xám đen; 01 quần jean, màu xám đen; 01 khẩu trang y tế; 01 Máy tính bảng nhãn hiệu Apple dòng máy iPad Air 2 màu xám tình trạng không mở được nguồn và không kiểm tra tình trạng bên trong); 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG, dòng máy A04 màu xanh đen, màn hình trước bị vỡ.
7. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Lê Văn L, Đào Thanh H, Phạm Thành Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
8. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo ( có mặt ) có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ( vắng mặt ) có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Nơi nhận:
| -Tòa án tỉnh; -Sở Tư pháp tỉnh Bình Định; -VKS Phù Mỹ; -Phân trại tạm giam khu vực Phù Mỹ; -THA Phù Mỹ; - Bị cáo, bị hại; - Lưu HS, VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiênTòa Nguyễn Đình Toàn |