- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn Phong phạm tội “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 1…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm tội “Cố ý gây thương tích” .
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:23/2025/HS-ST Ngày: 26 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Dương Hoàng Khải;
2. Ông: Phan Công Điện.
-Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Yến Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2024/TLST-HS, ngày 15 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Ph, sinh ngày 29 tháng 9 năm 1986, tại Bình Thủy, Cần Thơ. Nơi đăng ký thường trú: ấp Tân Long A, xã Tân Bình, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Khơme; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ph (Chết) và bà Danh Thị L; bị cáo không có vợ, không có con.
Về nhân thân:
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2013/HSST, ngày 18/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136, điểm p khoản 1, 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 20, Điều 53, Điều 33 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn Ph 03 năm tù về tội cướp giật tài sản. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 05/3/2013. Buộc liên đới bồi thường cho Nguyễn Thị Gi số tiền 14.145.000 đồng (Phần của Ph là 2.829.000 đồng), buộc liên đới bồi thường cho Nguyễn Thị Ng số tiền 10.350.000 đồng (Phần của Ph là 2.070.000 đồng), buộc liên đới bồi thường cho Nguyễn Thị G số tiền 5.117.000 đồng (Phần của Ph là 1.279.520 đồng), buộc liên đới bồi thường cho Lê Thị Y Nh số tiền 6.944.500 đồng (Phần của Ph là 1.279.000 đồng), buộc liên đới bồi thường cho Bàng Thị Nhung số tiền 3.637.800 đồng (Phần của Phong là 909.450 đồng), buộc liên đới bồi thường cho Huỳnh Thị H số tiền 5.250.000 đồng (Phần của Ph là 1.312.500 đồng), buộc liên đới bồi thường cho Trần Thị Tr số tiền 11.040.000 đồng (Phần của Ph là 5.520.000 đồng). Buộc nộp 200.000 đồng án phí sơ thẩm, nộp án phí dân sự là 783.000 đồng.
- Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 187/2013/HSPT, ngày 21/11/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, áp dụng điểm b, d khoản 2 Điều 136, điểm p khoản 1, 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 20, Điều 53, Điều 33 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn Ph 04 năm tù về tội cướp giật tài sản. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 05/3/2013.
Bị cáo Phong đã chấp hành xong hình phạt tù, đã nộp án phí hình sự, dân sự ngày 23/01/2014, đã liên đới bồi thường trách nhiệm dân sự ngày 01/4/2016.
- Ngày 08/7/2019, Phong bị Công an quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, với số tiền phạt là 750.000đ. Ngày 08/7/2019 Phong đã đóng phạt.
- Ngày 13/8/2020, Ph bị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 22 tháng. Phong đã chấp hành xong.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03 tháng 10 năm 2024. Bị cáo có mặt.
- Bị hại: Lê Văn Nh, sinh năm 1981. Địa chỉ: ấp Long Phụng A, xã Hiệp Hưng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Văn K, sinh năm 1961. Địa chỉ: ấp Long Phụng A, xã Hiệp Hưng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác (Người chứng kiến):
1. Nhan Hữu T, sinh năm 1993. Địa chỉ: Só 287/20, Trần Quang Diệu, phường An Thới, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
2. Lê Văn B, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp Long Phụng A, xã Hiệp Hưng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 25/7/2024, bị cáo Nguyễn Văn Phong đến nhà ông Lê Văn K, sinh ngày 01/01/1961, ngụ ấp Long Phụng A, xã Hiệp Hưng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang để dự đám giỗ, đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì bị cáo Phong, ông K, anh Nhan Hữu T, sinh năm 1993, ngụ số 287/20 Trần Quang Diệu, phường An Thới, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ, ông Lê Văn B, sinh năm 1984, ngụ ấp Long Phụng A, xã Hiệp Hưng và một số người khác bắt đầu nhậu.
Đến khoảng 16 cùng ngày thì Lê Văn Nh, sinh năm 1981, ngụ cùng ấp Long Phụng A đến vào bàn ngồi cạnh bị cáo Phong cùng nhậu, sau đó ông Kiên đem loa kẹo kéo ra để mọi người cùng hát karaoke. Lúc này khoảng 17 giờ cùng ngày, ông Nhơn kêu bị cáo Phong hát karaoke bằng tiếng Miên (Khơme), bị cáo Ph nói với ông Nh là không hát được, ông Nh lại nói tiếp "Mấy thằng miên, thổ hát hay lắm”, lúc này bị cáo Ph bực tức dùng micro đang cầm hát đánh trúng vào vùng trán của ông Nh 01 cái làm rơi micro khỏi tay, bị cáo Ph tiếp tục dùng tay phải lấy 01 vỏ chai bia hiệu Larue (Loại chai thủy tinh) trên bàn nhậu đánh trúng vào vùng đầu của ông Nh 01 cái gây thương tích, được mọi người can ngăn, bị cáo Ph bỏ đi về, còn ông Nh bị thương tích được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ điều trị vết thương.
Ngày 29/7/2024, ông Lê Văn Nh làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Văn P
cơ thể trên người sống số 190/KLTTCT-TTPY ngày 11/9/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Hậu Giang kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Văn Nhơn như sau:
Về thương tích:
- Vết sẹo vùng đỉnh trái, kích thước 5,2cm x 0,6cm, bờ mép nham nhỡ (Vết làm nứt xương bản sọ vùng đỉnh trái).
- Vùng trán có 02 vết sẹo, bờ mép nham nhỡ:
+ Vết 1, kích thước 1,5cm x 0,5cm.
+ Vết 2, kích thước 1,3cm x 0,4cm.
* Cận lâm sàng:
- CT Scanner sọ não: Không thấy dập – xuất huyết, màng não hay nhồi máu não trên CT Scanner hôm nay. Không thấy khối choán chỗ bất thường nội sọ. Nứt xương bản sọ vùng đỉnh trái.
Kết luận:
1. Các kết quả chính: Vết thương phần mềm đỉnh trái, trán trái; Nứt xương bản sọ vùng đỉnh trái; Tụ máu ngoài màng cứng không còn hình ảnh trên CT Scanner sọ não.
2. Kết luận:
2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định:
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng vết thương của Lê Văn Nh tại thời điểm giám định là:
+ Vết sẹo vùng đỉnh trái, nứt xương bản sọ vùng đỉnh trái, tụ máu ngoài màng cứng đã hồi phục: 15%.
+ Vết 1 vùng trán trái: 03%.
+ Vết 2 vùng trán trái: 03%.
- Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng vết thương của Lê Văn Nhơn tại thời điểm giám định là: 20%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Vật gây thương tích: Vết sẹo vùng đỉnh trái và 02 vết sẹo vùng trán trái do vật tày gây nên.
- Vị trí bị gây thương tích có phải vùng trọng yếu hay không? Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế thì không có mục xác định vùng trọng yếu.
Tại phiên tòa lời khai, lời trình bày ý kiến của những người được xét hỏi, thẩm tra gồm:
- Bị cáo Nguyễn Văn Ph thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo cho rằng, sở dĩ bị cáo gây thương tích đối với bị hại là vì bị hại nói xúc phạm nhiều lần đến bị cáo.
- Bị hại Lê Văn Nh trình bày: Về Trách nhiệm hình sự: Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại tổng số tiền 69.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm.
Người chứng kiến Lê Văn B trình bày: Một Micro mà bị cáo dùng đánh bị hại đã bị gảy đôi, không còn sử dụng được.
Bản cáo trạng số 15/CT-VKS-HPH, ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ph về “Tội cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Ph, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 3, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ph từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Ph đã bồi thường số tiền 69.000.000 đồng, bị hại Nhơn đã nhận đủ tiền và không yêu cầu thêm.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ và chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp quản lý: 01 micro dài khoảng 25cm, màu vàng. Đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo không tranh luận và không bào chữa.
Bị hại tranh luận: Bị hại không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thật tình không muốn gây thương tích đối với bị hại nhưng do quá bức xúc nên để xảy ra sự việc đáng tiếc. Hiện nay bị cáo khó khăn nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được về làm ăn sinh sống để trở thành công dân có ích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phụng Hiệp, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa: bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét về các yếu tố cấu thành tội phạm: Mặc dù giữa bị cáo và bị hại chỉ xuất phát từ những mâu thuẫn bình thường trong cuộc sống nhưng bị cáo không tìm được giải pháp giải quyết mà đã cố ý gây thương tích đối với bị hại với tỷ lệ thương tích tổn hại đến sức khỏe là 20%; hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của bị hại; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm về mặt khách thể, chủ thể, khách quan, chủ quan.
Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, sự thừa nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 17 giờ ngày 25 tháng 7 năm 2024, trong lúc nhậu và hát karaoke tại đám giỗ nhà ông Lê Văn K ở ấp Long Phụng A, xã Hiệp Hưng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, bị hại Lê Văn Nhơn kêu bị cáo Nguyễn Văn Phong hát bằng tiếng Miên (Khơme), bị cáo Ph nói với bị hại Nh là không hát được, bị hại Nh lại nói tiếp "Mấy thằng miên, thổ hát hay lắm”, lúc này bị cáo Ph bực tức do bị xúc phạm nên dùng micro và 01 vỏ chai bia hiệu Larue (Chai thủy tinh) đánh trúng vào vùng trán và vùng đầu của bị hại Nhơn gây thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại Nhơn là 20%. Hành vi của bị cáo Phong sử dụng micro và vỏ chai bia thủy tinh là hung khí nguy hiểm đánh gây thương tích cho bị hại Nh là đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích, thuộc trường hợp định khung hình phạt theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, đồng thời gây ảnh hưởng tiêu cực đến nếp sống tốt đẹp, văn minh, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Vì vậy buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi và hậu quả gây ra. Do đó cần có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường tiền để khắc phục hậu quả, bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, bị cáo có anh ruột Nguyễn Văn Phú là liệt sĩ. Các tình tiết này được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng tách nhiệm hình sự. Về nhân thân: Bị cáo đã hết tiền án, tiền sự nhưng không được xem là có nhân thân tốt.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội. Sau khi cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy Kiểm sát viên đề nghị áp dụng Điều 54 đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận bồi thường xong.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Xét 01 micro dài khoảng 25cm, màu vàng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo luật định. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm tội “Cố ý gây thương tích” .
- Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 3, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ph 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn phạt tù kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 micro dài khoảng 25cm, màu vàng.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, buộc bị cáo Nguyễn Văn Ph phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định của Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Hậu Giang; -VKSND tỉnh Hậu Giang; -Sở Tư pháp t.Hậu Giang; -VKSND h.Phụng Hiệp ; -Công an tỉnh Hậu Giang; -Bị cáo; -Bị hại; -UBND nơi bị cáo cư trú; -Lưu | Nguyễn Thanh Liêm |