vanban.org

Bản án 23/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 13/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình H phạm tội “Vô ý làm chết người”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Đình H: 9 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Đình H - phạm tội vô ý làm chết người (điều 128 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình H phạm tội “Vô ý làm chết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN ND HUYỆN TRIỆU SƠN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HS-ST
Ngày: 13 – 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Minh và bà Đàm Thị Thơ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy- Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

ơơ

- Đại diện Viện kiểm sát huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia

phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 13/3/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, mở phiên tòa

để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2025/TLST-HS ngày 06/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 2 năm 2025, đối với bị cáo:

Hoàng Đình H, sinh ngày 14/02/2007; Số CCCD: 038207004864; Nơi

ĐKNKTT: Thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: học sinh; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình T, sinh năm 1976 và bà Hà Thị L, sinh năm 1978; gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ 2;Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên

tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo, bà Lê Thị L1, trợ giúp viên pháp lý của Chi

nhánh số 6 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt

- Bị hại: Anh Lê Văn T1; Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

(đã chết)

Người đại diện hợp pháp cho bị hại theo biên bản họp gia đình. Bà Lê Thị

P, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các lài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 15/11/2024, Hoàng Đình H cùng anh Đỗ Minh S, anh Lê Văn

T1 và anh Lê Văn T2, (cùng là học sinh lớp 12K39 Trường THPT T4 3) rủ nhau về nhà anh T2 chơi và nấu ăn. H đi xe mô tô chở anh S và anh T1 đến nhà anh T2, chơi đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì anh T1 vào trong phòng ngủ của anh T2 lấy một con dao dài 38cm, được gắn vào phần cán dao dài 43cm đang để ở trên nóc tủ quần áo rồi đem ra sân trêu đùa với anh S. Khi anh S đang ngồi ở hè nhà ngang, anh T1 nói: "Tao xiên chết mẹ" thì anh S vừa cười vừa bước xuống sân nói: "Này, đánh cho đá" rồi tiếp tục ngồi xuống ở bậc hiên nhà. Sau đó, H nói anh T1 cho mượn con dao, rồi H đưa dao về phía anh S đang ngồi ở vỉa hè và chụp ảnh gửi cho bạn cùng lớp, H tiếp tục cầm dao đứng chơi ở sân, lúc này, H đứng dưới sân, còn anh T1 đứng ở bậc hiên nhà, cách nhau khoảng 02m, H vung múa dao để trêu đùa với anh T1 thì phần lưỡi dao bất ngờ bị văng ra khỏi khớp nối với cán dao, bay trúng vào ngực của anh T1, anh T1 dùng tay rút dao khỏi ngực rồi ngã khụy xuống đất. H, anh S, anh T2 đưa anh T1 đi đến Trạm y tế xã T, huyện T sơ cứu. Sau đó, đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện T thì anh T1 tử vong trên đường.

Ngày 15/11/2024, Hoàng Đình H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

huyện T đầu thú và giao nộp: 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6S màu vàng, đã qua sử dụng.

Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 17 giờ 15 phút ngày15/11/2024

ghi nhận tại gia đình ông Lê Văn T3, sinh năm 1975, ở thôn D, xãThọ Tiến, huyện T (bố anh Lê Văn T2):

Hiện trường nơi xảy ra vụ việc là khu vực hiên nhà của căn nhà ngang.

Khu nhà ngang là khu nhà cấp 4, lợp ngói, nền lát gạch men có diện tích cả hiên là 30m2. Khu nhà có cửa ra vào quay hướng Đ gồm hai cửa, mỗi cửa gồm 02 cánh mở theo hướng từ trong ra ngoài, hai cửa có kích thước bằng nhau là 1,17m x 2,2m. Phần hiên nhà có kích thước 1,4m x 6,5m, được lát gạch men. Tiếp giáp giữa phần hiên nhà và phần sân là bậc tam cấp được xây bằng gạch, láng xi măng bằng phẳng. Bậc tam cấp thứ nhất rộng 0,25m, dài 6,5m, cao 0,1m; bậc tam cấp thứ hai rộng 0,25m, dài 6,5m, cao 0,6m. Từ mặt tam cấp thứ hai đến mặt hiên (bậc tam cấp thứ 3) nhà cao 0,16m. Vị trí nơi xảy ra vụ việc là khu vực hiên nhà ngang, cách bờ tường phía Đông nhà ngang là 0,5m, cách góc tường phía Tây Nam là 2,6m.

Quá trình khám nghiệm, thu giữ: 01 con dao bằng kim loại màu trắng, một

phần cán dao quấn băng dính màu đen dài 0,38m, một lưỡi dao sắc và có mũi nhọn, được đựng trong vỏ đựng dao bằng kim loại hình tròn có đường kính 0,02m, dài 0,43m, toàn bộ phần vỏ dao được quấn bằng băng dính màu đen, phần lưỡi dao và phần vỏ đựng có thể ghép với nhau bằng khớp nối dạng lỗ bấm, vị trí thu giữ dao tại gầm giường trong phòng ngủ của anh T2; 01 giẻ lau nhà có hoa văn kẻ sọc đen (dạng áo cũ) không có nhãn mác, kích cỡ.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 4470/KLGĐTT-PC09

ngày22/11/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sư Công an tỉnh T đối với tử thiLê Văn Tuấn kết luận: Kết quả khám nghiệm: Vết rách da, cơ dạng hình bầu dục, mép vết gọn vùng ngực trái; vết xây xước da tại bàn chân trái; nhiều máu không đông lẫn máu cục tại khoang ngực hai bên và khoang ngoài tim; rãnh thương vùng ngực trái làm đứt, tụ máu tổ chức da, tổ chức dưới da, cơ ngực trái tương ứng khoang liên sườn 2, 3; đứt phần bán sụn sườn số 3 bên trái; rách màng ngoài tim; rãnh thương xuyên vào mặt trước tâm nhĩ trái thấu qua mặt sau tâm nhĩ trái và kết thúc trong khoang ngực trái. Tổ chức xung quanh rãnh thương tụ, ngấm máu; các bộ phận khác không phát hiện tổn thương. Kết luận nguyên nhân chết: Sốc mất máu do vết thương thấu tim.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành thực nghiệm

điều tra tại gia đình anh Lê Văn T2, kết quả thực nghiệm điều tra cho thấy:nếu khớp nối của dao được đóng hoàn toàn, khi vung dao thì lưỡi dao vẫn gắn vào cán dao, không văng ra ngoài nên không có khả năng gây thương tích. Nếu khớp nối của dao được đóng không hoàn toàn, chốt dao được đưa vào cán nhưng chưa đến khớp nối, khi thực nghiệm theo hành vi mà H mô tả thì lưỡi dao bay ra và có khả năng gây thương tích.

Ngày 02/12/2024, Phòng K Công an tỉnh T cóKết luận giám định số

4587/KL-KTHS kết luận: Trên 01 con dao và 01 miếngvải gửi giám định đều có ADN của người. Do nồng độ thấp nên không xác định được kiểu gen.

Về phần dân sự: Bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường số

tiền300.000.000đ cho gia đình nạn nhân. Đại diện gia đình nạn nhân có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Hoàng Đình H và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự.

Về đồ vật, vật chứng thu giữ, xử lý: Đối với 01 điện thoại di dộng nhãn

hiệu Iphone 6S màu vàng do không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho Hoàng Đình H; Đối với 01 con dao bằng kim loại màu trắng, một phần cán dao quấn băng dính màu đen dài 0,38m, một lưỡi dao sắc và có mũi nhọn, dao được dựng trong vỏ dao bằng kim loại hình tròn có đường kính 0,02m, dài 0,43m, toàn bộ phần vỏ dao được quấn bằng băng dính màu đen, phần lưỡi dao và phần vỏ đựng có thể ghép với nhau bằng khớp nối dạng lỗ bấm; 01 miếng vải dạng áo được niêm phong vào 01 thùng, được chuyển Chi cục thi hành án dân sự chờ xử lý.

* Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKS, ngày 06 tháng 02 năm 2025 của Viện

kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, truy tố bị cáo Hoàng Đình Hưng về tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và

đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình H phạm tội “Vô ý làm chết

người” theo khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2

Điều 51, Điều 91, Điều 101, Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 4 Điều 115, khoản 1 Điều 119, Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên.

Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo: Từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho

hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

* Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng

hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại màu trắng, một phần cán dao

quấn băng dính màu đen dài 0,38m, một lưỡi dao sắc và có mũi nhọn, dao được dựng trong vỏ dao bằng kim loại hình tròn có đường kính 0,02m, dài 0,43m, toàn bộ phần vỏ dao được quấn bằng băng dính màu đen, phần lưỡi dao và phần vỏ đựng có thể ghép với nhau bằng khớp nối dạng lỗ bấm; 01 miếng vải dạng áo.

- Về dân sự: Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu về phần dân sự nên

không xem xét

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của

pháp luật.

* Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo H:

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo H thống nhất với ý kiến của đại

diện Viện kiểm sát về hành vi phạm tội của bị cáo, các điều luật áp dụng. Đề nghị HĐXX xem xét bị cáo là người chưa thành niên, tinh thần và thể chất chưa được phát triển hoàn thiện, trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn; Bị cáo và gia đình đã bồi thường thiệt hại; bị cáo có ông ngoại, ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, đại diện gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Áp dụng khoản 1 điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh

luận đối với Kiểm sát viên, lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá

trình điều tra, truy tố thực hiện đều đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình cụ thể như

sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút,ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại gia đình ông Lê

Văn T3, ở thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Hoàng Đình H trong lúc đùa nghịch đã vung, múa dao để trêu đùa với anh Lê Văn T1 thì phần lưỡi dao bất ngờ bị văng ra khỏi khớp nối với cán dao, bay trúng vào ngực của anh T1 gây sốc mất máu do vết thương thấu tim dẫn đến anh T1 tử vong trên đường đi cấp cứu.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường,

biên bản khám nghiệm tử thi và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Hoàng Đình H đủ yếu tố cấu thành tội “ Vô ý làm chết người”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa

truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến

tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành

khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; cùng gia đình bồi thường chi phí thiệt hại cho gia đình bị hại; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú; bị cáo có ông ngoại, ông nội được tặng thưởng Huân chương chiến công hạnh nhì; bị cáo được ban chấp hành đoàn trường nơi bị cáo theo học, ban chấp hành xã nơi bị cáo cư trú xác nhận trong thời gian học tập và sinh hoạt tại địa phương luôn cố gắng và tiến hộ trong học tập, không có hiểu hiện vi phạm đạo đức và nội quy, quy chế của nhà trường, của địa phương. Là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, tinh thần và thể chất chưa

được phát triển hoàn thiện, trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế, nên áp dụng Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự, Điều 115, Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội để xử lý đối với bị cáo.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, căn cứ vào tính chất, mức

độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Xét thấy bị cáo hiện đang theo học tại Trường P1, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có khả năng tự cải tạo tại địa phương, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội mà cho cải tạo, giáo dục dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng

hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại màu trắng, một phần cán dao

quấn băng dính màu đen dài 0,38m, một lưỡi dao sắc và có mũi nhọn, dao được dựng trong vỏ dao bằng kim loại hình tròn có đường kính 0,02m, dài 0,43m, toàn bộ phần vỏ dao được quấn bằng băng dính màu đen, phần lưỡi dao và phần vỏ đựng có thể ghép với nhau bằng khớp nối dạng lỗ bấm; 01 miếng vải dạng áo.

[6] Về dân sự: Bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường xong phần dân sự

cho gia đình bị hại. Nay đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét về phần dân sự.

{{

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của

pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91,

Điều 101, khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 4 Điều 115, khoản 1 Điều 119, Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên.

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình H phạm tội “Vô ý làm chết người”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Đình H: 9 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo,

thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hoàng Đình H cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh

Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa

vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố

tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại màu trắng, một phần cán dao

quấn băng dính màu đen dài 0,38m, một lưỡi dao sắc và có mũi nhọn, dao được dựng trong vỏ dao bằng kim loại hình tròn có đường kính 0,02m, dài 0,43m, toàn bộ phần vỏ dao được quấn bằng băng dính màu đen, phần lưỡi dao và phần vỏ đựng có thể ghép với nhau bằng khớp nối dạng lỗ bấm; 01 miếng vải dạng áo.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 24/VC/2025, ngày 11/2/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn)

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136, Điều 333 BLTTHS; khoản 1 Điều

21 Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền

kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ