- Tranh chấp gì? án hình sự — "làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG TP. ĐÀ NẴNG ––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày 31 tháng 3 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thầm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thu Thương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Bút
Bà Nguyễn Thị Thuỷ
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Xuân Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Vào ngày 31 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2025/HSST ngày 03 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Thanh T, sinh ngày 04/7/1979 tại Phú Yên;
Nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thanh H (chết) và bà Phạm Thị Thu H1 (chết); Có vợ là Lê Thị Thúy H2, sinh năm 1979 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Công ty TNHH K; địa chỉ: lầu D số D L, phường H, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Long N – chức vụ: giám đốc; địa chỉ: số A M, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
+ Ông Lê Trí C, sinh năm 1982; địa chỉ: A Bà T, tp L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt
+ Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1984; nơi cư trú: Khu Phố D, H, Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 5 năm 2024, Lê Thanh T điều khiển xe ô tô đầu kéo gắn BKS 50H-087.68 kéo theo sơmi rơ mooc gắn BKS 51R-252.52 chở trái cây đến khu vực cửa khẩu L để xuất khẩu qua Trung Quốc, do yêu cầu của việc vận chuyển qua cửa khẩu Trung Quốc là phải có bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe nhưng bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đầu kéo gắn BKS 50H- 087.68 kéo theo sơmi rơ mooc gắn BKS 51R-252.52 đang thế chấp tại ngân hàng nên việc vận chuyển gặp khó khăn. Trong lúc ngồi chờ thì có một người phụ nữ không rõ lai lịch liên hệ với T qua ứng dụng Zalo (không xác định) về việc sẽ làm giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đầu kéo gắn BKS 50H- 087.68 kéo theo sơmi rơ mooc gắn BKS 51R-252.52 và thủ tục thông quan với giá 700.000 đồng thì T đồng ý và cung cấp địa chỉ, thông tin, hình ảnh của giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đầu kéo gắn BKS 50H-087.68 kéo theo sơmi rơ mooc gắn BKS 51R-252.52 cho người này. Khoảng một lúc sau thì có một người phụ nữ không rõ lai lịch đến gặp và đưa cho T 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50019334 biển số đăng ký 50H- 087.68 do Phòng C1 cấp ngày 25.02.2021 và 01 giấy chứng nhận đăng ký sơmi rơ mooc số 50000547 biển số đăng ký 51R-252.52 do Phòng C1 cấp ngày 25.02.2021, T đưa 700.000 đồng tiền mặt cho người này, sau khi có giấy tờ thì T sử dụng để thực hiện thủ tục thông quan. Đến ngày 31/10/2024, T giao xe ô tô đầu kéo gắn BKS 50H- 087.68 kéo theo sơmi rơ mooc gắn BKS 51R-252.52 (trên xe có để 02 giấy chứng nhận đăng ký xe giả nêu trên) cho anh Nguyễn Văn Đ sử dụng để chở hàng trái cây ra cửa khẩu để xuất khẩu qua Trung Quốc. Khi anh Đ điều khiển xe đi đến khu vực K cao tốc Đ- Quảng Ngãi thuộc xã H, H. H, TP . thì bị tổ tuần tra kiểm soát số 01 thuộc Đội Cảnh sát giao thông đường bộ cao tốc số E- Phòng 6- Cục C2 kiểm tra hành chính, do không biết giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50019334 biển số đăng ký 50H-087.68 do Phòng C1 cấp ngày 25/02/2021 và giấy chứng nhận đăng ký sơmi rơ mooc số 50000547 biển số đăng ký 51R-252.52 do Phòng C1 cấp ngày 25/02/2021 có trên xe ô tô là giả nên anh Đ xuất trình giấy tờ này cho tổ công tác. Qua kiểm tra phát hiện những giấy tờ này có dấu hiệu làm giả nên tạm giữ giấy tờ, phương tiện và mời Nguyễn Văn Đ về làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Lê Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Theo Kết luận giám định số 2534/KL-KTHS ngày 26/11/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng kết luận: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50019334 biển số đăng ký 50H-087.68 do Phòng C1 cấp ngày 25/02/2021 và 01 giấy chứng nhận đăng ký sơmi rơ mooc số 50000547 biển số đăng ký 51R-252.52 do Phòng C1 cấp ngày 25/02/2021 là giả.
Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKSHV ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Vang, Tp ĐN đã truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” qui định tại điểm c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Lê Thanh T và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự tuyên Lê Thanh T phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, đề nghị xử phạt Lê Thanh T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm, phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền từ 10.000.000đ đến 20.000.000đ. Về tang vật đề nghị HĐXX áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu lưu giữ tại hồ sơ 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50019334 biển số đăng ký 50H-087.68 do Phòng C1 cấp ngày 25/02/2021 và 01 giấy chứng nhận đăng ký sơmi rơ mooc số 50000547 biển số đăng ký 51R-252.52 do Phòng C1 cấp ngày 25/02/2021.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Cơ quan điều tra Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp được chấp nhận để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Về nội dung: Khoảng tháng 5 năm 2024, Lê Thanh T có hành vi làm giả 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50019334 biển số đăng ký 50H-087.68 do Phòng C1 cấp ngày 25/02/2021 và 01 giấy chứng nhận đăng ký sơmi rơ mooc số 50000547 biển số đăng ký 51R-252.52 do Phòng C1 cấp ngày 25/02/2021 và đến ngày 31/10/2024 tại khu vực Km04 cao tốc Đà Nẵng- Quảng Ngãi thuộc xã H, H. H, TP . thì bị tổ tuần tra kiểm soát số 01 thuộc Đội Cảnh sát giao thông đường bộ cao tốc số E- Phòng 6- Cục C2 kiểm tra hành chính, phát hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” qui định tại điểm c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 22/CT-VKSHV ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Vang, TP . đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án cũng như mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, Hội đồng xét xử thấy rằng: Xe ô tô đầu kéo gắn BKS 50H-087.68 kéo theo sơmi rơ mooc gắn BKS 51R-252.52 đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký xe theo quy định nhưng công ty TNHH K đã thế chấp tại Ngân hàng, quá trình lưu thông xe ở trong nước bị cáo T sử dụng giấy xác nhận của ngân hàng, tuy nhiên khi chở trái cây từ Việt Nam sang Trung Quốc xuất khẩu thì giấy này không được hải quan Trung Quốc chấp nhận, do lo sợ hàng hóa trên xe không được thông quan sẽ bị hư và đền tiền nên khi có người hướng dẫn lấy hình ảnh bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe để làm giấy tờ thông quan thì bị cáo đã liên hệ Nguyễn Long N (Giám đốc công ty TNHH K) và Lê Trí C xin hình ảnh bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký xe và sơmi rơ mooc đưa cho một người phụ nữ (không rõ lai lịch) làm giấy chứng nhận đăng ký xe và sơmi rơ mooc giả để thông quan. Mặc dù chỉ nhằm mục đích thông quan tại cửa khẩu Trung Quốc nhưng hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước được pháp luật bảo vệ. Do đó cần thiết xét xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bản thân bị cáo sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã nhận ra lỗi của mình và thể hiện sự ăn năn hối cải, đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án. Bị cáo là lao động chính trong gia đình, cha mẹ bị cáo là những người có công cách mạng được Nhà nước tặng thưởng H3, Huy chương. Vì vậy, HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có khả năng tự cải tạo, nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự giao về địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng thỏa đáng.
Đối với Nguyễn Long N và Lê Trí C khi cung cấp hình ảnh của Giấy chứng nhận đăng ký xe và sơmi rơ mooc cho bị cáo thì cả hai không biết T làm Giấy chứng nhận đăng ký xe và sơmi rơ mooc giả mà chỉ biết là cung cấp để làm thủ tục thông quan; Đối với Nguyễn Văn Đ khi sử dụng các giấy tờ xe này cung cấp cho lực lượng tuần tra cũng không biết giấy tờ xe là giả nên Cơ quan điều tra không xử lý N, C và Đ là có cơ sở.
Đối với xe ô tô đầu kéo gắn BKS 50H- 087.68 kéo theo sơmi rơ mooc gắn BKS 51R-252.52 và giấy chứng nhận kiểm định của xe, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu; Đối với 01 giấy phép lái xe hạng FC mang tên Nguyễn Văn Đ, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Văn Đ là có cơ sở.
Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50019334 biển số đăng ký 50H-087.68 do Phòng C1 cấp ngày 25.02.2021 và 01 giấy chứng nhận đăng ký sơmi rơ mooc số 50000547 biển số đăng ký 51R-252.52 do Phòng C1 cấp ngày 25.02.2021 tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 341; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh T 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay, ngày 31/3/2025.
Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo Lê Thanh T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng: khoản 4 Điều 341 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bổ sung: Phạt bị cáo Lê Thanh T số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu lưu hồ sơ vụ án các tài liệu, chứng cứ: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50019334 biển số đăng ký 50H-087.68 do Phòng C1 cấp ngày 25.02.2021 và 01 giấy chứng nhận đăng ký sơmi rơ mooc số 50000547 biển số đăng ký 51R-252.52 do Phòng C1 cấp ngày 25.02.2021.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000đồng.
Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay, ngày 31/3/2025. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - VKSND huyện Hoà Vang; - VKSND tp ĐN; - Chi cục THADS huyện Hoà Vang; - Công an tp Đà Nẵng; - Phòng Kiểm tra TAND tpĐN; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Huỳnh Thị Thu Thương |