vanban.org

Bản án 23/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 31/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HS-ST
Ngày 31-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Châu Văn Bình

Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Đăng- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang tham gia

phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phi Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 09/10/1993 tại Tiền Giang; CCCD 082093011485.

Nơi cư trú: Ấp 1, xã Tam H, huyện Châu Th, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (trình độ học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Ngh sinh năm 1956 (chết) và bà Đinh Thị B sinh năm 1962; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: 01 lần, Bản án số 82/2019/HSST ngày 29/8/2019 của Toà án nhân dân huyện Châu Th, tỉnh Tiền Giang xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”; tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 19/12/2024, tạm giam ngày 28/12/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

+ Bị hại:

Trần Thế V, sinh năm 1992; (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp Tân Th, xã Tân Thuận B, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Đinh Thị B, sinh năm 1962; (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp 1, xã Tam H, huyện Châu Th, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 19/12/2024 bị cáo Nguyễn Ngọc S điều khiển xe mô tô hiệu Vision, biển số 63AC-118.76 (dán giấy ghi biển số giả 83AF-778.66), mang theo 01 cây kềm, 01 cây kéo điều khiển xe từ nhà tại ấp 1, xã Tam H, huyện Châu Th đến cửa hàng bán dép Kim Tiền toạ lạc tại ấp Thạnh K, xã An Thạnh Th, huyện Chợ G, tỉnh Tiền Giang do anh Trần Thế V làm chủ, khoảng 01 giờ 30 phút ngày 19/12/2024 thì đến cửa hàng Kim Tiền, khi đến nơi bị cáo lách người qua hàng rào lưới B40 vào bên trong lấy 30 đôi dép nhựa các loại chưa qua sử dụng bỏ vào 02 bao nilon rồi chở ra để tại chân cầu Trạm bơm thuộc xã Bình Ph, huyện Chợ Gạo, sau đó quay vào lấy tiếp 15 đôi dép các loại thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Theo Kết luận định giá tài sản số 57/KL-ĐGTS ngày 20/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chợ Gạo kết luận: Tổng giá trị 45 đôi dép nhựa các loại là 1.673.000 đồng.

Bản cáo trạng số 26/CT-VKSCG ngày 18/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc S đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc S từ 01 năm tù-01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

* Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Chợ Gạo đã trả 45 đôi dép cho bị hại, trả xe mô tô 63AC-118.76 cho bà Đinh Thị B. Anh V, bà B không có ý kiến, yêu cầu gì khác, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với các vật chứng sau đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu huỷ: 01 tờ giấy ghi biển số xe 83AF-778.66, kích thước (14x19)cm; 03 túi nilon màu đen, kích thước (50x60)cm; 01 kềm cộng lực kim loại, dài 21cm, cán được bọc nhựa màu xanh, phần thân kềm có chữ “BERRYLION”; 01 kéo kim loại màu đen, chiều dài 16,5cm, cán bọc nhựa màu đen.

* Trách nhiệm dân sự:

- Bị hại Trần Thế V, người liên quan Đinh Thị B đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì khác, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc S đã khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có cơ sở xác định: vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 19/12/2024 bị cáo lấy trộm tổng cộng 45 đôi dép nhựa các loại, giá trị tài sản chiếm đoạt là 1.673.000 đồng.

+ Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015:

“ 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

b) Đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 168, 169,170,171,172,174,175 và 290 của Bộ luậ này, chưa được xoá án tiochs mà còn vi phạm.”

Bị cáo có 01 tiền án về tội “Cướp tài sản” chưa được xoá án tích (chấp hành xong vào ngày 29/01/2023), nên hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cầu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc, nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài không phải bỏ công sức để lao động, nên bị cáo bất chấp pháp luật cố ý thực hiện tội phạm.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm bất hợp pháp đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Hành vi nêu trên của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu đã bị Tòa án xét xử về tội “Cướp tài sản”, nhưng bị cáo vẫn chứng nào tật nấy, tiếp tục thực hiện tội phạm, điều đó cho thấy ý thức rất xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó cần có mức án thật nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Cha ruột là người có công với Cách mạng; hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Lời luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và hướng giải quyết về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Gạo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Chợ Gạo đã trả 45 đôi dép cho bị hại, trả xe mô tô 63AC-118.76 cho bà Đinh Thị B. Anh V, bà B không có ý kiến, yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với các vật chứng sau không còn giá trị sử dụng, Hội đồng xét xử cần tịch thu tiêu huỷ: 01 tờ giấy ghi biển số xe 83AF-778.66, kích thước (14x19)cm; 03 túi nilon màu đen, kích thước (50x60)cm; 01 kềm cộng lực kim loại, dài 21cm, cán được bọc nhựa màu xanh, phần thân kềm có chữ “BERRYLION”; 01 kéo kim loại màu đen, chiều dài 16,5cm, cán bọc nhựa màu đen.

Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại Trần Thế V, người liên quan Đinh Thị B đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2024.

+ Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau: 01 tờ giấy ghi biển số xe 83AF-778.66, kích thước (14x19)cm; 03 túi nilon màu đen, kích thước (50x60)cm; 01 kềm cộng lực kim loại, dài 21cm, cán được bọc nhựa màu xanh, phần thân kềm có chữ “BERRYLION”; 01 kéo kim loại màu đen, chiều dài 16,5cm, cán bọc nhựa màu đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/3/2025)

+ Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Ngọc S phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

+ Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Bị cáo, người liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ