- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim D về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” đối với bị đơn và ông Võ Huỳnh Hữu C.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25-3-2025. V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Phong.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thái Bình Hòa.
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên
Trong các ngày 20, 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 417/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim D, sinh năm 1990; địa chỉ: Số nhà F, Đường B, Tổ E, Khu phố G, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Có mặt.
Bị đơn: Ông Võ Huỳnh Hữu C, sinh năm 1989; địa chỉ: Số nhà F, Đường B, Tổ E, Khu phố G, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim D trình bày: Bà Huỳnh Thị Kim D và ông Võ Huỳnh Hữu C sống chung như vợ chồng và đăng ký kết hôn vào năm 2011 tại UBND phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận với nhau. Tuy nhiên hiện nay cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kéo dài dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc, tình nghĩa vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện hai vợ chồng đã sống ly thân. Trong thời gian chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Võ Huỳnh Khánh D1, sinh ngày 16/10/2011 và Võ Huỳnh Kim T, sinh ngày 03/02/2015.
Nay yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Kim D yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Võ Huỳnh Hữu C.
Về con chung: Sau khi ly hôn bà Huỳnh Thị Kim D là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc 02 con chung tên Võ Huỳnh Khánh D1, sinh ngày 16/10/2011 và Võ Huỳnh Kim T, sinh ngày 03/02/2015.
Về cấp dưỡng con chung: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc các con chung Võ Huỳnh Khánh D1, sinh ngày 16/10/2011 và Võ Huỳnh Kim T, sinh ngày 03/02/2015. Bị đơn có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 2.500.000đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng. Nay nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Võ Huỳnh Hữu C trình bày: Thống nhất sống chung như vợ chồng và đăng ký kết hôn vào năm 2011 tại UBND phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận với nhau. Tuy nhiên hiện nay cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, hai vợ chồng đã sống ly thân. Ông Võ Huỳnh Hữu C muốn sống ly thân thêm 02 năm nữa để cùng nhau chăm sóc con chung.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Võ Huỳnh Khánh D1, sinh ngày 16/10/2011 và Võ Huỳnh Kim T, sinh ngày 03/02/2015.
Về cấp dưỡng con chung: Ông Võ Huỳnh Hữu C cung cấp tiền lương để nuôi con chung (trừ trường hợp ông C bị thất nghiệp)
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án đến trước phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, Bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về phần thủ tục Kiểm sát viên không có kiến nghị khắc phục gì thêm.
Về việc giải quyết vụ án: Về nội dung, căn cứ theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim D được ly hôn với ông Võ Huỳnh Hữu C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Bà Huỳnh Thị Kim D có đơn xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung với ông Võ Huỳnh Hữu C. Như vậy, quan hệ pháp luật là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Bà Huỳnh Thị Kim D và ông Võ Huỳnh Hữu Chung kết H vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 15, ngày 17/01/2011 đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà Huỳnh Thị Kim D cho rằng vợ chồng sống chung nhưng không hạnh phúc. Nguyên nhân do cuộc sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, hiện vợ chồng đã ly thân, tình nghĩa vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông Võ Huỳnh Hữu C không đồng ý ly hôn với bà Huỳnh Thị Kim D và cho rằng cần sống ly thân 02 năm nữa để nuôi dạy con chung. Xét thấy vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn và hai vợ chồng đã sống ly thân. Căn cứ biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân phường C và bản tự khai bị đơn ông Võ Huỳnh Hữu C xác định vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn và hai vợ chồng đã sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim D yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Võ Huỳnh Hữu C là có căn cứ, đúng theo quy định tại theo Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà Huỳnh Thị Kim D và ông Võ Huỳnh Hữu C có 02 con chung tên Võ Huỳnh Khánh D1, sinh ngày 16/10/2011 và Võ Huỳnh Kim T, sinh ngày 03/02/2015. Sau khi ly hôn bà Huỳnh Thị Kim D yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông Võ Huỳnh Hữu C cấp dưỡng nuôi con. Ông Võ Huỳnh Hữu C không đồng ý ly hôn vì mong muốn hai vợ chồng cùng nhau chăm sóc con chung.
Xét thấy, hiện 02 cháu tên Võ Huỳnh Khánh D1, sinh ngày 16/10/2011 và Võ Huỳnh Kim T, sinh ngày 03/02/2015 sống cùng với bà Huỳnh Thị Kim D từ khi hai vợ chồng ly thân cho đến nay. Từ những nhận xét và phân tích nêu trên Hội đồng xét xử giao 02 cháu tên Võ Huỳnh Khánh D1, sinh ngày 16/10/2011 và Võ Huỳnh Kim T, sinh ngày 03/02/2015 cho bà Huỳnh Thị Kim D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sẽ đảm bảo sự phát triển cho cháu, cũng như đảm bảo về việc học hành của cháu.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Huỳnh Thị Kim D có đơn rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Kim D phải nộp theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều Điều 51, Điều 56, 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim D về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” đối với bị đơn và ông Võ Huỳnh Hữu C.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Kim D được ly hôn với ông Võ Huỳnh Hữu C.
1.2. Về con chung: Bà Huỳnh Thị Kim D là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc 02 con chung tên Võ Huỳnh Khánh D1, sinh ngày 16/10/2011 và Võ Huỳnh Kim T, sinh ngày 03/02/2015.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Đình chỉ yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Kim D nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tạm ứng trước đây theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003302 ngày 23/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND TP. Thủ Dầu Một; - CC THADS TP. Thủ Dầu Một; - Các đương sự; - UBND phường Chánh Nghĩa; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Phong |