vanban.org

Bản án 23/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của bà Trịnh Thị Kim C đối với ông Nguyễn Trần Quí .

Về quan hệ hôn nhân: cho bà Trịnh Thị Kim C ly hôn với ông Nguyễn Trần Quí . Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Kim T, sinh ngày 26/7/2016 và Nguyễn Nhật H, sinh ngày 18/11/2024 cho bà Trịnh Thị Kim C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Ông Nguyễn Trần Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Các b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trịnh Thị Kim C - Nguyễn Trần Q"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của bà Trịnh Thị Kim C đối với ông Nguyễn Trần Quí .
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LIÊN CHIỂU -TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23 /2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28 - 4 - 2025
V/v ly hôn, tranh chấp
về con chung khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thái

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Công Chi

2. Ông Nguyễn Văn Cơ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Tuyến - Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 51/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về con chung khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17/4/2025 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Kim C, sinh năm 1993; địa chỉ: thôn A, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt

- Bị đơn: Ông Nguyễn Trần Q, sinh năm 1992; địa chỉ: tổ A, phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Trịnh Thị Kim C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Trần Q kết hôn vào năm 2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H (Chứng nhận kết hôn số: 60/2014 ngày 13/5/2014). Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại nhà mẹ ông Q ở tổ A, phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Cả hai chung sống được thời gian thì ông Q bị kết án về tội cố ý gây thương tích và đi chấp hành án tại trại giam. Đến năm 2024, sau khi ông Q chấp hành án về thì vợ chồng tự thuê nhà để sinh sống và mâu thuẫn cũng đồng thời phát sinh. Nguyên nhân do tính tình và quan điểm sống không phù hợp dẫn đến ông bà thường xuyên xảy ra cãi vã và đôi lúc ông Q còn đánh đập bà C. Tháng 01 năm 2025 đến nay thì bà C và ông Q đã tự động sống ly thân, không quan tâm đến nhau từ đó cho đến nay. Nay bà Trịnh Thị Kim C xác định vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn đã trầm trọng không còn khả năng hành gắn, hôn nhân không đạt được mục đích nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Trần Quí .

- Về con chung: Bà Trịnh Thị Kim C xác định bà và ông Nguyễn Trần Q có 02 con chung là Nguyễn Thị Kim T, sinh ngày 26/7/2016 và Nguyễn Nhật H, sinh ngày 18/11/2024. Ly hôn, bà C yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trịnh Thị Kim C xác định bà và ông Nguyễn Trần Q không có tài sản chung, không có nợ chung.

* Bị đơn là ông Nguyễn Trần Q đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn là ông Nguyễn Trần Q quá trình tố tụng không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không có ý kiến phản hồi là không tuân thủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đối với quan hệ hôn nhân: qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà Trịnh Thị Kim C và ông Nguyễn Trần Q đã trầm trọng, kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Về con chung: đề nghị căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao cả hai con chung cho bà C1 trực tiếp nuôi dưỡng, ông Q không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: nguyên đơn xác định không có, bị đơn không có ý kiến nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

*Về tố tụng:

Nguyên đơn là bà Trịnh Thị Kim C khởi kiện ly hôn, tranh chấp nuôi dưỡng con chung khi ly hôn đối với bị đơn là ông Nguyễn Trần Q có địa chỉ cư trú tại tổ A, phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Trần Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị Kim C và ông Nguyễn Trần Q tuân thủ đầy đủ các quy định về kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình, do vậy hôn nhân của ông bà hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn với ông Nguyễn Trần Q, xét yêu cầu của nguyên đơn thấy rằng:

Theo bà C thì giữ vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn trong một thời gian dài, hiện tại bà và ông Q đã tự động sống ly thân, không ai có trách nhiệm với ai trong cuộc sống. Tuy nhiên, trong suốt quá trình Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu giải quyết vụ án, ông Q vắng mặt không có lý do, không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều đó chứng tỏ ông Q không có thiện chí trong việc khắc phục mâu thuẫn vợ chồng, hàn gắn quan hệ hôn nhân.

Do vậy, việc bà Trịnh Thị Kim C cho rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Trần Q là có căn cứ, phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần được chấp nhận.

Về con chung: Theo bà Trịnh Thị Kim C xác định bà và ông Nguyễn Trần Q có có 02 con chung là Nguyễn Thị Kim T, sinh ngày 26/7/2016 và Nguyễn Nhật H, sinh ngày 18/11/2024. Ly hôn, bà C yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu của bà C thì thấy: cả cha và mẹ đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, nhưng việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn phải đảm bảo quyền lợi cho con; xét cả hai con chung của bà C và ông Q còn nhỏ nên cần có sự chăm sóc, dạy dỗ trực tiếp của người mẹ, mặt khác ông Q không có ý kiến gì đối với vấn đề nuôi dưỡng con chung, do vậy việc giao cả hai con chung cho bà C nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp. Đối với vấn đề cấp dưỡng nuôi con, do bà C không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trịnh Thị Kim C xác định bà và ông Nguyễn Trần Q không có tài sản chung và không có nợ chung; còn ông Nguyễn Trần Q không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Trịnh Thị Kim C phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của bà Trịnh Thị Kim C đối với ông Nguyễn Trần Quí .

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: cho bà Trịnh Thị Kim C ly hôn với ông Nguyễn Trần Quí .

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Kim T, sinh ngày 26/7/2016 và Nguyễn Nhật H, sinh ngày 18/11/2024 cho bà Trịnh Thị Kim C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Ông Nguyễn Trần Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Các bên vẫn có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trịnh Thị Kim C xác định bà và ông Nguyễn Trần Q không có tài sản chung và không có nợ chung. Ông Nguyễn Trần Q không có ý kiến.

4. Án phí HNGĐ-ST: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Trịnh Thị Kim C phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007503 ngày 17/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu. Bà C đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ