vanban.org

Bản án 23/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Quỳnh N đối với ông Trần Tuấn T. Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Quỳnh N và ông Trần Tuấn T.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Quỳnh N và ông Trần Tuấn T theo Giấy chứng nhận kết hôn số 03 ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã L, tỉnh Vĩnh Long) chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Bà Quỳnh N khai không c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị N xin ly hôn anh T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Quỳnh N đối với ông Trần Tuấn T. Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Quỳnh N và ông Trần Tuấn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18/8/2025
Về việc tranh chấp: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Long Hồ.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Văn Săng;

2. Ông Lê Minh Chiến.

- Thư ký phiên Tòa: Ông Lê Minh Trọng là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long.

Ngày 18 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 178/2025/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2025/QĐST- HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh năm 1999 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp P, phường C, tỉnh Đồng Tháp.

Bà Nguyễn Thị Quỳnh N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 25/4/2025.

- Bị đơn: Ông Trần Tuấn T, sinh năm 1999 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp P, xã L, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn đề ngày 29/4/2025, bản tự khai ngày 05/6/2025, Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 11/6/2025 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Quỳnh N trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông T tự nguyện tiến tới hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã L, tỉnh Vĩnh Long) vào năm 2024. Thời gian đầu sống chung có hạnh phúc nhưng đến tháng 01/2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến thường xuyên cự cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung, mỗi người một cuộc sống riêng, không ai quan tâm ai. Nay, thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên bà N yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông T.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long đã tống đạt hợp lệ cho ông Trần Tuấn T các văn bản tố tụng nhưng ông T vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa xét xử vụ án mặc dù ông T vẫn còn sinh sống tại địa phương nên Tòa án không thu thập được lời khai của ông Trần Tuấn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Nguyễn Thị Quỳnh N khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Trần Tuấn T. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Trần Tuấn T có đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại ấp P, xã L, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Tuấn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Bà Nguyễn Thị Quỳnh N vắng mặt và có Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 05/6/2025. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông T cưới nhau vào năm 2024 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã L, tỉnh Vĩnh Long) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 03 ngày 29 tháng 02 năm 2024 theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Quỳnh N và ông Trần Tuấn T được công nhận hợp pháp.

Nay, bà N yêu cầu ly hôn ông T vắng mặt nên không có lời khai. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bà N trong quá trình giải quyết vụ án, đều xác định được cuộc sống vợ chồng của ông bà đã phát sinh mâu thuẫn từ tháng 01/2025, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, mỗi người đã có một cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai.

Toà án đã tiến hành mời bà N và ông T để hoà giải, nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông T vẫn vắng mặt không lý do, điều đó cho thấy ông T đã không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này.

Vậy, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa bà N và ông T đã không còn quan tâm, chăm sóc đến cuộc sống của nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Điều đó cũng chứng tỏ hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà N là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà Quỳnh N khai không có nên không xét đến.

Về tài sản chung: Bà Quỳnh N khai không có nên không xét đến.

Về nợ chung: Bà Quỳnh N khai không có nên không xét đến.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Quỳnh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 14 Điều 3, Điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Quỳnh N đối với ông Trần Tuấn T. Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Quỳnh N và ông Trần Tuấn T.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Quỳnh N và ông Trần Tuấn T theo Giấy chứng nhận kết hôn số 03 ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã L, tỉnh Vĩnh Long) chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Bà Quỳnh N khai không có nên không xét đến.

3. Về tài sản chung: Bà Quỳnh N khai không có nên không xét đến.

4. Về nợ chung: Bà Quỳnh N khai không có nên không xét đến.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Quỳnh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0011251 ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Vĩnh Long). Vậy, bà Nguyễn Thị Quỳnh N đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh N, ông Trần Tuấn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ