- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Giang - anh Lệ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Giang được ly hôn anh Nguyễn Văn Ngọc.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST Ngày 11/8/2025 V/v: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Quang Vinh
2. Ông Nguyễn Văn Thanh.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huấn - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Bắc Ninh.
Đại viện viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Vi Đức Thứ - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Bắc Ninh.
Ngày 11/8/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 128/2025/TLST-HNGĐ ngày 23/4/2025 về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/07/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số /2025/QĐST-HNGĐ ngày 31/7/2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Giang, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn Ngoẹn, xã Tiên Lục, tỉnh Bắc Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Bị đơn: Anh Chu Văn Lệ, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn Ngoẹn, xã Tiên Lục, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện cùng những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Trần Thị Giang trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Ngày 9/12/2013, chị kết hôn với anh Chu Văn Lệ trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Tiên Lục, tỉnh Bắc Ninh). Kết hôn xong vợ chồng về chung sống với nhau, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Khoảng năm 2017 vợ chồng bắt đầu cãi vã xô xát mắng chửi nhau, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp. Anh chị bất đồng trong cả cuộc sống sinh hoạt hàng ngày và làm ăn kinh tế. Anh Lệ không chịu làm ăn kinh tế để chăm lo đời sống cho vợ con. Mâu thuẫn trầm trọng đến nay anh chị đã ly thân chấm dứt mọi quan hệ về mặt tình cảm và kinh tế. Vợ chồng không còn chung sống, không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau.
Chị xác định tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên chị làm đơn đề nghị Tòa án xem xét giải quyết ly hôn với anh Chu Văn Lệ.
Về con chung: Chị và anh Lệ có với nhau 02 người con chung là cháu Chu Thị Ngọc Diệp, sinh ngày 04/9/2014 và cháu Chu Văn Trung Hiếu, sinh ngày 02/8/2016. Hiện nay chị đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Diệp còn cháu Hiếu thì đang ở cùng bố và ông bà nội. Hai con khỏe mạnh phát triển bình thường, trước do chị thương các con nên đề nghị khi Tòa án giải quyết ly hôn giao cả 02 con chung cho chị là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Nhưng nay chị xác định các con đã lớn chị tôn trọng ý kiến nguyện vọng của các con, các con có nguyện vọng được ở với ai chị đều đồng ý.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Chu Văn Lệ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Nhưng anh Lệ không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại biên bản lấy lời khai của ông Chu Văn Tuyết là bố đẻ của anh Chu Văn Lệ, Tòa án được cung cấp như sau:
Ngày 9/12/2013 anh Chu Văn Lệ kết hôn với chị Trần Thị Giang trên cơ sở tự nguyện tự do có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tiên Lục. Sau khi hai bên gia đình đồng ý có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương chị Giang về chung sống với anh Lệ. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, sau do anh Lệ bị nghiện ma túy không quan tâm gia đình không tu chí làm ăn nên khoảng năm 2023 anh chị ấy đã sống ly thân, vợ chồng cắt đứt mọi quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế. Nay chị Giang làm đơn xin ly hôn anh Lệ thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Anh Lệ chị Giang có với nhau 02 người con chung là cháu Chu Thị Ngọc Diệp, sinh ngày 04/9/2014 và cháu Chu Văn Trung Hiếu, sinh ngày 02/8/2016. Hai con khỏe mạnh phát triển bình thường, hiện cháu Hiếu đang ở cùng bố và ông bà nội còn cháu Diệp đang ở cùng chị Giang. Nay chị Giang có nguyện vọng giải quyết về con chung khi ly hôn thì gia đình cũng đồng ý và đề nghị tôn trọng ý kiến nguyện vọng của các cháu, các cháu có nguyện vọng được ở với ai gia đình đều đồng ý. Anh Lệ hiện đi làm ăn kinh tế có khi sáng đi tối về có khi thì hai ba hôm mới về.
Tại biên bản ghi lời khai của con chung là cháu Chu Thị Ngọc Diệp, sinh ngày 04/9/2014 trình bày: Cháu là con của mẹ Trần Thị Giang và bố Chu Văn Lệ. Hiện nay cháu đang ở cùng mẹ Giang mạnh khỏe, phát triển bình thường. Trong trường hợp bố mẹ cháu không ở cùng với nhau nữa thì cháu xin được ở với mẹ Giang. Ngoài ra cháu không còn ý kiến nào khác.
Tại biên bản ghi lời khai của con chung là cháu Chu Văn Trung Hiếu, sinh ngày 02/8/2016 trình bày: Cháu là con của mẹ Trần Thị Giang và bố Chu Văn Lệ. Hiện nay cháu đang ở cùng bố và ông bà nội mạnh khỏe, phát triển bình thường. Trong trường hợp bố mẹ cháu không ở cùng với nhau nữa thì cháu xin được ở với bố Lệ. Ngoài ra cháu không còn ý kiến nào khác.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị Giang có đơn đề nghị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến của mình, chị xin được vắng mặt. Bị đơn anh Chu Văn Lệ vắng mặt lần thứ 2 không lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn chưa chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Giang được ly hôn anh Chu Văn Lệ
- Về con chung: Giao chị Trần Thị Lệ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Chu Thị Ngọc Diệp, sinh ngày 04/9/2014; Giao anh Chu Văn Lệ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Chu Văn Trung Hiếu, sinh ngày 02/8/2016. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn chị Giang và anh Lệ được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, mà không ai được cản trở anh chị thực hiện quyền này của mình.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết về tiền án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Đơn khởi kiện của chị Trần Thị Giang cùng các tài liệu nộp kèm theo đơn là hợp lệ, đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp ly hôn, nuôi con chung. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện Lạng Giang (nay là xã Tiên Lục). Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Bắc Ninh.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Bắc Ninh đã thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự pháp luật đã quy định. Tại phiên tòa nguyên đơn là chị Giang có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là anh Lệ vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Giang và anh Chu Văn Lệ có đăng ký kết hôn vào ngày 9/12/2013 tại UBND xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Tiên Lục, tỉnh Bắc Ninh). Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị Giang và anh Lệ là hợp pháp.
Về tình trạng hôn nhân, HĐXX xét thấy: Lời khai của chị Giang phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định vợ chồng chị Giang và anh Lệ có xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị Giang và anh Lệ bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, anh Lệ không tu chí làm ăn chăm lo gia đình. Hiện tại vợ chồng sống ly thân không quan tâm, chăm sóc gì cho nhau. Như vậy HĐXX xác định chị Giang và anh Lệ trong thời gian chung sống vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ với nhau, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ cùng nhau chia sẻ mọi việc bảo vệ hạnh phúc gia đình. Anh chị xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân đến nay không ai quan tâm qua lại, chăm sóc gì cho ai. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã giải thích, phân tích cho chị Giang tuy nhiên chị vẫn giữ nguyên yêu cầu và cương quyết xin ly hôn anh Lệ. HĐXX xét thấy mâu thuẫn giữa anh chị đã căng thẳng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần giải quyết cho chị Giang được ly hôn anh Lệ như vậy là phù hợp với Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Chị Giang và anh Lệ có với nhau 02 người con chung là cháu Chu Thị Ngọc Diệp, sinh ngày 04/9/2014 và cháu Chu Văn Trung Hiếu, sinh ngày 02/8/2016. Hai cháu phát triển bình thường, do chị Giang và anh Lệ đã sống ly thân nên hiện tại cháu Chu Thị Ngọc Diệp đang sống cùng chị Giang còn cháu Chu Văn Trung Hiếu đang sống cùng anh Lệ và ông bà nội.
Ly hôn chị Giang xác định các con đã lớn chị tôn trọng ý kiến nguyện vọng của các con, các con có nguyện vọng được ở với ai chị đều đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của con chung. Tại biên bản lấy lời khai của cả hai con chung: cháu Chu Thị Ngọc Diệp có nguyện vọng được ở với chị Giang còn cháu Chu Văn Trung Hiếu có nguyện vọng được ở với anh Lệ.
HĐXX thấy rằng: Chị Giang và anh Lệ đều đang trong độ tuổi lao động, đủ điều kiện để nuôi con. Chị Giang và anh Lệ có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật.
Hiện nay cháu Diệp đang ở cùng chị Giang còn cháu Hiếu đang ở cùng anh Lệ, các cháu đều khỏe mạnh và phát triển bình thường. Để đảm bảo cuộc sống của các con chung tránh xáo trộn tâm lý của các con nên HĐXX thấy cần giao cho chị Giang được trực tiếp nuôi con chung Chu Thị Ngọc Diệp; giao cho anh Lệ được trực tiếp nuôi con chung Chu Văn Trung Hiếu là phù hợp với nguyện vọng của các bên, phù hợp quy định của pháp luật, phù hợp với Điều 81, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Do chị Giang và anh Lệ không đề nghị gì về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn, chị Giang và anh Lệ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Chị Giang và anh Lệ có quyền làm đơn đề nghị giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc vụ án yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Giang phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Giang được ly hôn anh Nguyễn Văn Ngọc.
2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Giang trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Chu Thị Ngọc Diệp, sinh ngày 04/9/2014; Giao cho anh Nguyễn Văn Ngọc trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Chu Văn Trung Hiếu, sinh ngày 02/8/2016. Về cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.
Sau khi ly hôn chị Giang, anh Lệ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở chị Giang, anh Lệ thực hiện quyền này.
Chị Giang, anh Lệ có quyền làm đơn đề nghị giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc vụ án yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Trần Thị Giang phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị Giang đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003662 ngày 23/04/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 - Bắc Ninh). Xác nhận chị Giang đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND Khu vực 4 – Bắc Ninh; - P.THADS Khu vực 4 – Bắc Ninh; - UBND xã Tiên Lục; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hương |