- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Thùy L xin ly hôn anh Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thùy L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22-8-2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – VĨNH LONG -TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ánh Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Sáu
Ông Nguyễn Ngọc Tòng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang là thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Vĩnh Long: Không tham gia phiên tòa
Ngày 22 tháng 8 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 79/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXX-ST ngày 01 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1991 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã Th, huyện B, tỉnh Vĩnh Long
Nay là ấp T, xã L, tỉnh Vĩnh Long
-Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã BA, huyện B, tỉnh Vĩnh Long
Nay là ấp T, xã Q, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/5/2025 và các lời trình bày tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Thùy L trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn T cưới nhau vào năm 2018. Hôn nhân do đôi bên được mai mối, sau đó được sự chấp thuận của gia đình đôi bên anh chị có tổ chức lễ cưới theo phong tục tại địa phương.
Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thành, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
Sau khi cưới, vợ chồng về sống tại ấp Tân Hậu, xã Tân Bình, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long. Anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm.
Vợ chồng anh chị có một người con chung tên Nguyễn Thiên P, sinh ngày 24/12/2018. Hiện cháu P đang ở với cha mẹ.
Về tài sản chung và vợ chung, vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Thời gian đầu vợ chồng sống rất hạnh phúc, tuy nhiên về sau vợ chồng thường hay phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm và không thể hòa hợp trong cuộc sống dẫn đến thường gây gổ với nhau. Vợ chồng đã nhiều lần cố gắng khuyên bảo lẫn nhau thay đổi để hàn gắn tình cảm nhưng đều không thành từ đó đời sống vợ chồng không có hạnh phúc.
Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Tân (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Vĩnh Long) giải quyết cho chị những vấn đề như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn T
Về con chung: Nguyễn Thiên P sinh ngày 24/12/2018 chị đang nuôi, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
* Anh Nguyễn Văn T trình bày:
Anh đồng ý với lời trình bày của chị Nguyễn Thị Thùy L khai về quan hệ hôn nhân, về con chung, quan hệ tài sản, mâu thuẫn là đúng. Hiện nay anh vẫn còn tình cảm với chị Nguyễn Thị Thùy L. L muốn ly hôn thì anh đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị Thùy L. Về con chung Nguyễn Thiên P sinh ngày 24/12/2018, anh yêu cầu nuôi dưỡng, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Lý do anh muốn nuôi con là do anh không muốn L nuôi, sợ L có chồng khác sẽ đối xử không tốt với con anh. Quan hệ tài sản không tranh chấp, không yêu cầu tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Nguyễn Thị Thùy L về việc yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T; về con chung có 01 người con chung, về tài sản chung, nợ chung chị L và anh T không tranh chấp và không yêu cầu giải quyết là tranh chấp về ly hôn, nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn anh Nguyễn Văn T có nơi cư trú tại huyện Bình Tân (nay là xã Tân Quới), theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Bình Tân (nay là khu vực 3 – Vĩnh Long) giải quyết.
Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Bình Tân (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Vĩnh Long) tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tranh chấp ly hôn, các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án nhân dân huyện Bình Tân (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Vĩnh Long) không phải tiến hành thu thập chứng cứ; các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật tại phiên tòa, theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu khởi kiện:
Về hôn nhân: Xét chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Nguyễn Văn T là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Nguyễn Văn T bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Xét anh, chị không còn đời sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét cuộc sống gia đình giữa chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Nguyễn Văn T không hạnh phúc, anh, chị không dung hòa được tình cảm vợ chồng, không hàn gắn được hạnh phúc gia đình. Chị Nguyễn Thị Thùy L không còn mong muốn cùng anh Nguyễn Văn T xây dựng một gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Anh Nguyễn Văn T cũng đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị Thùy L.
Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thùy L xin ly hôn với anh Nguyễn Văn T là có căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 2; Điều 19; khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thùy L, cho chị Nguyễn Thị Thùy Linh được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: cháu Nguyễn Thiên P sinh ngày 24/12/2018, chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Nguyễn Văn T yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Thiên P.
Xét thấy hiện cháu Nguyễn Thiên P có cuộc sống ổn định nên việc chị Nguyễn Thị Thùy L yêu cầu giao cháu Nguyễn Thiên P cho chị nuôi dưỡng là có căn cứ nên được chấp nhận. Anh Nguyễn Văn T chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản: không tranh chấp nên hội đồng xét xử không đặt ra giải
quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thùy Linh phải chịu theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 2; Điều 19; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 21 và Điều 147; Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thùy L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thiên P sinh ngày 24/12/2018 cho chị Nguyễn Thị Thùy L nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn T chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về quan hệ tài sản (tài sản chung, nợ chung): không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Thùy L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm; được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số No 0000356 ngày 09/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Tân (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 – Vĩnh Long), chị Nguyễn Thị Thùy L không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5.Án xử công khai có mặt nguyên đơn, bị đơn. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh Vĩnh Long;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ -VKSND KV3; -Chi cục THADS KV3; -Các đương sự: -Lưu VP, HS
Nguyễn Ánh Dƣơng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sáu Nguyễn Ngọc Tòng
Nguyễn Ánh Dƣơng
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Vĩnh Long; -VKSND huyện Bình Tân; -Chi cục THADS huyện Bình Tân; -Các đương sự: -Lưu VP, HS THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trƣơng Văn Ánh Lê Minh Thƣ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Ánh Dƣơng Nguyễn Ánh Dƣơng |