vanban.org

Bản án 23/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn anh Lý Văn D.

Về nuôi con chung: Giao 02 con chung là cháu Lý Thuỳ Chi, sinh ngày 21/10/2014 và cháu Lý Anh Tuyên; sinh ngày 08/01/2018;cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo pháp luật, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con. Người… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Đ - Lý Văn D Ly hôn, nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn anh Lý Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN BÌNH
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:23/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24-4-2025
V/v:“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH – TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Kim Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Trường và bà Nguyễn Thị Hiền

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Phượng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Hiếu– Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 235/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2025 về: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXX - ST ngày 25 tháng 02 năm 2025 và Thông báo mở lại phiên tòa số: 15/2025/TB- TA ngày 03 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1996.

- Bị đơn: Anh Lý Văn D, sinh năm 1993.

Cùng trú tại địa chỉ:Thôn Linh Môn 2, xã B.H (xã Yên Bình cũ), huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.

(Anh D vắng mặt không có lý do, chị Đ có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – chị Nguyễn Thị Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với Anh Lý Văn D trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Yên Bình (nay là xã B.H), huyện Yên Bình vào ngày 12/12/2014. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc bình thường, được 2,3 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh D thường xuyên uống rượu về gây sự, chửi bới, đập phá đồ đạc, ghen tuông vô cớ, anh chị tự hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả, đã sống ly thân từ tháng 5/2024 đến nay không quan tâm đến cuộc sống của nhau, nay mâu thuẫn giữa anh chị không thể khắc phục. Chị Đ xác định tình cảm vợ chồng đã hết, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lý Văn D.

- Về nuôi con chung: Anh chị có 02 con chung; cháu lớn Lý Thuỳ Chi, sinh ngày 21/10/2014, cháu thứ 2: Lý Anh Tuyên; sinh ngày 08/01/2018; Khi ly hôn tôi nguyện vong được nuôi cả 2 cháu và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án cầu giải quyết.

- Ý kiến nguyện vọng của con chung: Cả hai cháu đều có nguyện vọng ở với mẹ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Lý Văn D nhưng anh D không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tại phiên tòa: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 228; Điều 238, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Đ để xử cho chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn với anh Lý Văn D. Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Lý Thuỳ Chi, sinh ngày 21/10/2014 và cháu Lý Anh Tuyên, sinh ngày 08/01/2018 cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo pháp luật, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con; về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Lý Văn D có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Linh Môn 2 xã Yên Bình (nay là xã B.H), huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái nên yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Đ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình. Chị Nguyễn Thị Đ và anh Lý Văn D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Chị Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, anh D vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Yên Bình xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Lý Văn D kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Yên Bình (cũ), huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái ngày ngày 12/12/2014, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Đ cho rằng vợ chồng chung sống có mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh chị tự hoà giải nhiều lần xong không có kết quả. Anh chị sống ly thân từ tháng 5 năm 2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Mặc dù, anh D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt, thể hiện anh D không có thiện chí hòa giải. Từ đó có căn cứ cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Đ và anh Lý Văn D đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Đ là có căn cứ. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình để xử cho chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn anh Lý Văn D.

Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Lý Văn D 02 con chung là cháu Lý Thuỳ Chi, sinh ngày 21/10/2014, cháu thứ 2: Lý Anh Tuyên; sinh ngày 08/01/2018; Kể từ khi anh chị sống ly thân thì các cháu ở với chị Đ. Khi giải quyết ly hôn chị Đ có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Xét nguyện vọng của chị Đ là có căn cứ bởi lẽ: Cả hai cháu đều có nguyện vọng ở với chị Đ, anh D không có mặt nên không có ý kiến về nuôi con chung nên để đảm bảo quyền và lợi ích của con chung cần giao 02 cháu Lý Thuỳ Chi, sinh ngày 21/10/2014 và cháu: Lý Anh Tuyên; sinh ngày 08/01/2018 cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế và nguyện vọng của con chung

Về chia tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với điều kiện, thực tế khách quan của các đương sự nên chấp nhận.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; Khoản 4 Điều 147, Điều 228; Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban hường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn anh Lý Văn D.

2.Về nuôi con chung: Giao 02 con chung là cháu Lý Thuỳ Chi, sinh ngày 21/10/2014 và cháu Lý Anh Tuyên; sinh ngày 08/01/2018;cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo pháp luật, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3.Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai số: AA/2023//0001178 ngày 30-11-2023 của chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái (xác nhận Chị Đ đã nộp đủ).

4. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ