- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "án hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị P.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:23/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16/05/2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Nghị và bà Lê Thị Thúy Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thùy Trang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên
Trong ngày 16 tháng 05 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 44/2025/TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 03 năm 2025 về yêu cầu “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 14 tháng 04 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số 13/QĐHPT- HNGĐ ngày 29 tháng 04 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị P - sinh năm 1990
Địa chỉ: xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Đào Văn L - sinh năm 1985
Địa chỉ: xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Bùi Thị P trình bày:
Về hôn nhân: Chị Bùi Thị P và anh Đào Văn L kết hôn với nhau vào ngày 17 tháng 11 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã N - huyện N - tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, đã sống ly thân hơn hai năm nay, không còn tình cảm và không quan tâm đến nhau nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Đào Văn L.
Về con chung: Chị Bùi Thị P và anh Đào Văn L có bốn con chung là Đào Đình N, sinh ngày 23 tháng 05 năm 2009; Đào Thị Thảo L1, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2013; Đào Bảo K, sinh ngày 10 tháng 8 năm 2015 và Đào Đình D, sinh ngày 15 tháng 04 năm 2018. Ly hôn chị P có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung Đào Bảo K và Đào Đình D; nhường quyền nuôi dưỡng con chung Đào Đình N và Đào Thị Thảo L1 cho anh L. Chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Bùi Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Đào Văn L:
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh L biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ nhưng anh L vẫn không có mặt để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành xác minh và niêm yết các tài liệu, chứng cứ tại địa phương nơi anh L cư trú theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.
- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án: Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại điều 51, điều 236, điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật
- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Bùi Thị P là cho ly hôn với anh Đào Văn L; Việc nuôi con: đề nghị hội đồng xét xử giao hai con chung Đào Bảo K, sinh ngày 10 tháng 8 năm 2015 và Đào Đình D, sinh ngày 15 tháng 04 năm 2018 cho chị P trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng; Giao hai con chung Đào Đình N, sinh ngày 23 tháng 05 năm 2009 và Đào Thị Thảo L1, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2013 cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi các con chung trưởng thành; Về án phí: Nguyên đơn chị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Bùi Thị P có nơi cư trú tại xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An yêu cầu ly hôn với anh Đào Văn L là bị đơn có nơi cư trú tại xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Về việc xét xử vắng mặt của các đương sự:
Đối với nguyên đơn chị Bùi Thị P, quá trình giải quyết vụ án chị P có mặt theo yêu cầu của Tòa án. Tại các phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chị P đều có mặt, đã trình bày ý kiến và yêu cầu của mình, không thay đổi, bổ sung gì. Tuy nhiên đến ngày xét xử vụ án do đang đi làm ăn ở xa, đi lại khó khăn nên chị P không sắp xếp được thời gian về tham dự phiên tòa, do đó chị P đã có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn anh Đào Văn L có hộ khẩu thường trú tại xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh L biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho thân nhân của anh L, quá trình xác minh được biết việc chị P yêu cầu ly hôn, giải quyết việc nuôi con anh L biết nhưng không có ý kiến gì. Sau khi nhận giấy báo của Toà án đã thông báo cho anh L biết về thời gian, địa điểm đến Toà án để giải quyết vụ án nhưng anh L không hợp tác, không đến và không có ý kiến gì. Toà án đã tiến hành niêm yết các tài liệu, giấy triệu tập và các chứng cứ tại địa phương nơi anh L cư trú theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị P và anh Đào Văn L kết hôn với nhau vào ngày 17 tháng 11 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã N - huyện N - tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, đã sống ly thân nhau hơn hai năm nay, hiện tại không còn tình cảm và không quan tâm đến nhau nữa. Xét thấy tình cảm giữa chị P và anh L không còn, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị P.
2.2. Về con chung: Chị Bùi Thị P và anh Đào Văn L có bốn con chung là Đào Đình N, sinh ngày 23 tháng 05 năm 2009; Đào Thị Thảo L1, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2013; Đào Bảo K, sinh ngày 10 tháng 8 năm 2015 và Đào Đình D, sinh ngày 15 tháng 04 năm 2018. Ly hôn chị P có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung Đào Bảo K và Đào Đình D; nhường quyền nuôi dưỡng con chung Đào Đình N và Đào Thị Thảo L1 cho anh L. Từ ngày anh chị sống ly thân nhau hai con chung là cháu K và cháu D ở với mẹ, cháu N và cháu L1 ở với bố. Con chung Đào Bảo K và Đào Đình D có nguyện vọng được ở với mẹ là chị Bùi Thị P, con chung Đào Đình N và Đào Thị Thảo L1 có nguyện vọng được ở với bố là anh Đào Văn L. Để đảm bảo quyền lợi cho các con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao hai con chung Đào Bảo K và Đào Đình D cho chị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng vfa giáo dục; Giao con chung Đào Đình N và Đào Thị Thảo L1 cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc và giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành là phù hợp.
2.3. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị P1 và anh L do không có yêu cầu.
2.4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Bùi Thị P không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
. Về án phí: Nguyên đơn chị Bùi Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39; khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56; điều 58; điều 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị P.
1.Về hôn nhân: Cho chị Bùi Thị P ly hôn với anh Đào Văn L.
2.Việc nuôi con: Giao hai con chung Đào Bảo K, sinh ngày 10 tháng 8 năm 2015 và Đào Đình D, sinh ngày 15 tháng 04 năm 2018 cho chị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; Giao hai con chung Đào Đình N, sinh ngày 23 tháng 05 năm 2009 và Đào Thị Thảo L1, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2013 cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị P và anh L do không có yêu cầu.
Chị P và anh L có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật thì có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án chị Bùi Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp tại biên lai thu tiền số 0012555 ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.
4. Nguyên đơn chị Bùi Thị P và bị đơn anh Đào Văn L có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự - VKSND h. Nghĩa Đàn - Chi cục THADS h. Nghĩa Đàn - TAND tỉnh Nghệ An - UBND xã Nghĩa L - h. Nghĩa Đàn. - Lưu hồ sơ vụ án | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hương |