- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hon nhan gia dinh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Kha Thị Ph.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST. Ngày: 10/4/2025. “V/v Ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Phượng;
2. Bà Chung Thị Thu Nguyệt.
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Lê Phú Quý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò.
Vào ngày 10/4/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 78/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 về việc ”Ly hôn và nuôi con khi ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 60/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 24/3/2025 giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Kha Thị Ph, sinh năm 1979; địa chỉ cư trú: Số 406 ấp A, xã M, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Ông Dương Phước H, sinh năm 1976; địa chỉ cư trú: Số 406 ấp A, xã M, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
Bà Kha Thị Ph và ông Dương Phước H có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện; biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn bà Kha Thị Ph trình bày:
Về hôn nhân: Bà Phương và ông Hậu sống chung như vợ chồng từ năm 2002, không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu sống chung hạnh phúc, tuy vẫn có nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống nhưng vì con nên vẫn duy trì cuộc sống hôn nhân. Đến năm 2024, ông Hậu nhiều lần chửi mắng, đuổi bà Phương đi, bà Phương không thể chịu đựng thêm được nữa, tình cảm vợ chồng không còn. Nay bà Phương xin ly hôn với ông Hậu.
Về con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung tên Dương Phước Lộc, sinh ngày 08/7/2002 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết và Dương Quang Phước Hiển, sinh ngày 12/5/2017, đang sống với ông Hậu, bà Phương đồng ý giao con tên Hiển cho ông Hậu nuôi dưỡng, bà Phương không cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa ông Dương Phước H trình bày: Ông Dương Phước H và bà Kha Thị Ph sống chung như vợ chồng từ năm 2002, không có đăng ký kết hôn. Sống chung đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân đến nay. Nguyên nhân do tình cảm vợ chồng không còn, không hàn gắn được. Nay ông Hậu đồng ý ly hôn với bà Phương.
Về con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung tên Dương Phước Lộc, sinh ngày 08/7/2002 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết và Dương Quang Phước Hiển, sinh ngày 12/5/2017, đang sống với ông Hậu. Ông Hậu yêu cầu nuôi con tên Hiển, không yêu cầu bà Phương cấp dưỡng.
Tại văn bản ghi ý kiến ngày 25/02/2025 của Dương Quang Phước Hiển trình bày: Sau khi cha mẹ ly hôn, nguyện vọng của Hiển là được sống với cha Dương Phước H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn bà Kha Thị Ph khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Dương Phước H, yêu cầu này phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình. Bị đơn ông Dương Phước H có địa chỉ tại huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Bà Kha Thị Ph với ông Dương Phước H sống chung như vợ chồng từ năm 2002, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay, nhưng vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, thì: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”. Tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Căn cứ quy định trên thì hôn nhân của bà Phương với ông Hậu không được pháp luật công nhận, nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Kha Thị Ph và ông Dương Phước H.
Về nuôi con chung bà Phương và ông Hậu thống nhất trình bày: trong quá trình chung sống có 02 con chung tên Dương Phước Lộc, sinh ngày 08/7/2002 đã trưởng thành và Dương Quang Phước Hiển, sinh ngày 12/5/2017, đang sống với ông Hậu. Bà Phương và ông Hậu thống nhất giao con chung tên Hiển cho ông Hậu nuôi dưỡng, bà Phương không cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng của Hiển cũng được sống với ông Hậu. Xét việc tự nguyện thỏa thuận của bà Phương và ông Hậu phù hợp với nguyện vông của Hiển, Hội đồng xét xử chấp nhận. Giao con tên Dương Quang Phước Hiển, sinh ngày 12/5/2017, đang sống với ông Hậu cho ông Hậu nuôi dưỡng, bà Phương không cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà Phương và ông Hậu không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Phương chịu toàn bộ tiền án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 81, khoản 3 Điều 82 và khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Kha Thị Ph.
2. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Kha Thị Ph và ông Dương Phước H.
3. Về con chung: Công nhận thỏa thuận của bà Phương và ông Hậu. Giao con tên Dương Quang Phước Hiển, sinh ngày 12/5/2017, đang sống với ông Hậu cho ông Hậu nuôi dưỡng, bà Phương không cấp dưỡng nuôi con.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Bà Kha Thị Ph chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005565 ngày 10/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp (đã nộp xong).
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND H.Lấp Vò; - Chi cục THADS H.Lấp Vò; - UBND xã Mỹ An Hưng B; - Lưu VPTA-HSVA. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hằng |