vanban.org

Bản án 23/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Huỳnh Văn A.

Chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn với anh Huỳnh Văn A. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Nguyễn Thanh T, sinh ngày 05/6/2011 cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thanh H ly hôn với Huỳnh Văn A"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Huỳnh Văn A.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN CẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST
Ngày 28-4-2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Thanh Hùng;

Bà Nguyễn Thị Ngưng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Cao Cường là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tuyết Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 167/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXX-ST ngày 24 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1976; địa chỉ: Số 7, tổ 3, ấp A, xã BL, huyện VC, tỉnh Đồng Nai, có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn A, sinh năm 1978; địa chỉ: Số 362, tổ 5, ấp TH, xã LT, huyện BC, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 8 năm 2024 và bản tự khai - nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H trình bày:

Chị và anh Huỳnh Văn A tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BL, huyện VC, tỉnh Đồng Nai vào năm 2011. Trong thời gian sống chung, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp nhau nên thường xuyên cãi vả với nhau. Mặc dù, vợ chồng cố gắng hàn gắn hạnh phúc nhưng không thành. Vì vậy, vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh Nguyễn Thanh T, sinh ngày 05/6/2011, hiện đang sống với chị H.

Về tài sản chung, về nợ chung: Không có.

Nay chị yêu cầu ly hôn với anh A. Về con chung: Chị yêu cầu tiếp tục nuôi, không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Huỳnh Văn A là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không tham gia tố tụng nên Tòa án không ghi nhận lời khai của anh A.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật HN&GĐ; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh H đối với anh Huỳnh Văn A. Chị H được ly hôn với anh A.

- Về con chung: Giao 01 con chung tên Huỳnh Nguyễn Thanh T, sinh ngày 05/6/2011 cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Ghi nhận chị H không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H trình bày không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về án phí sơ thẩm hôn nhân: Chị H phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt; bị đơn anh Huỳnh Văn A đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh A.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Huỳnh Văn A chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào năm 2011 tại UBND xã BL, huyện VC, tỉnh Đồng Nai. Vợ chồng chung sống hạnh phúc cho tới cuối năm 2020 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gổ, cãi vã. Chị H và anh A sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị H yêu cầu ly hôn với anh A. Anh A mặc dù đã được Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng nhưng không đến tham gia phiên tòa thể hiện anh không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc. Xét thấy hôn nhân của chị H và anh A lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh Nguyễn Thanh T, sinh ngày 05/6/2011. Hiện nay, cháu T đang sống với chị H, qua hỏi ý kiến cháu T có yêu cầu sống với chị H. Do đó, cần giao cháu T cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh A không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.

Anh A được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung, về nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 thì chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Huỳnh Văn A.

Chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn với anh Huỳnh Văn A.

2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Nguyễn Thanh T, sinh ngày 05/6/2011 cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh A không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.

Anh A được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0012391 ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu; chị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đối với đương sự vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ