vanban.org

Bản án 23/2025/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim L.

Buộc bà Châu Ngọc M và ông Huỳnh Văn N có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Kim L số tiền vay còn thiếu gốc là 1.223.837.000 đồng, lãi là 80.976.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 1.304.813.000 đồng (Một tỷ ba trăm lẻ bốn triệu tám trăm mười ba nghìn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Thị Kim Loan - Huỳnh Văn NGoãn, Châu Ngọc Mười"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim L.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Bộ luật Dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/DS-ST
Ngày: 18-8-2025
V/v tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bé Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Văn Vũ Biên Cương;

Ông Lê Văn Luận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Mai - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Bình Nguyên - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 31-7-2025 và ngày 18-8-2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp (Trụ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2025/TLST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2025/QĐST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1983.

Địa chỉ trước đây: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Địa chỉ hiện nay: Ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn:

1/Huỳnh Văn Ngoãn, sinh năm 1970;

2/Châu Ngọc M, sinh năm 1978.

Cùng địa chỉ trước đây: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Cùng địa chỉ hiện nay: Ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

(Bà L, ông N có mặt tại phiên tòa; Bà M vắng mặt lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Lời trình bày của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim L: Vào năm 2024, 2025 bà L có cho vợ chồng bà Châu Ngọc M, ông Huỳnh Văn N vay tiền, cụ thể như sau:

Ngày 12-9-2024 (nhằm ngày 10-8-2024 âm lịch), bà L có cho bà M, ông N vay số tiền 500.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 5%/1tháng, thời hạn trả 03 tháng, kể từ ngày vay. Bà L thừa nhận đã nhận tiền lãi của bà M 07 tháng (kể ngày vay), mỗi tháng 25.000.000 đồng, tổng cộng 175.000.000 đồng.

Ngày 22-02-2025 (nhằm ngày 25-01-2025 âm lịch), bà L có cho bà M, ông N vay số tiền 700.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 5%/1tháng, thời hạn trả 03 tháng, kể từ ngày vay. Bà L thừa nhận đã nhận tiền lãi của bà M 02 tháng (kể từ ngày vay), mỗi tháng 35.000.000 đồng, tổng cộng 70.000.000 đồng.

Ngày 02-3-2025 (nhằm ngày 03-02-2025 âm lịch), bà L có cho bà M, ông N vay số tiền 200.000.000 đồng, thoản thuận lãi suất 5%/1tháng, thời hạn trả 06 tháng, kể từ ngày vay. Bà L thừa nhận đã nhận tiền lãi của bà M 01 tháng (kể từ ngày vay), với số tiền là 10.000.000 đồng.

Sau đó, bà M và ông N không đóng lãi nữa, điện thoại thì bà M không nghe máy. Bà L có đến nhà đòi ông N chồng bà M thì ông N nói không biết, không chịu trả nợ cho bà L. Nên bà L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Huỳnh Văn N và bà Châu Ngọc M liên đới trả cho bà L tiền vay gốc tổng cộng 1.400.000.000đồng và tiền lãi tổng cộng 23.240.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 1.423.240.000 đồng và yêu cầu tính lãi đến khi Tòa án giải quyết xong.

Ngoài số nợ vay nêu trên thì bà M có mượn các chân hụi của bà L để hốt hụi nhưng đến nay các dây hụi này chưa mãn nên bà L chưa kiện, để sau này mãn hụi bà L sẽ yêu cầu sau.

Tại phiên tòa bà L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Huỳnh Văn N và bà Châu Ngọc M liên đới trả cho bà L tiền vay gốc tổng cộng 1.400.000.000đồng và tiền lãi tổng cộng 23.240.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 1.423.240.000 đồng và yêu cầu tính lãi đến khi Tòa án giải quyết xong. Đối với số tiền lãi trước đây đã nhận vượt quá quy định của pháp luật bà L đồng ý khấu trừ vào số tiền gốc với mức lãi suất là 1,67%/tháng, sau khi khấu trừ tiền lãi nhận thừa vào số tiền gốc còn lại gốc bao nhiêu thì bà L cũng thống nhất và yêu cầu tiếp tục tính lãi đến ngày xét xử.

Lời trình bày của bị đơn Huỳnh Văn N: Không đồng ý trả nợ theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim L, vì ông N không có vay tiền của bà L, ông N cũng không biết bà M vay tiền của bà L và không có sử dụng số tiền của bà M vay của bà L, nếu bà L cho rằng vợ chồng ông N vay tại sao khi cho bà M vay tiền không thông báo cho ông N biết và cũng không cho ông N ký tên vào biên nhận vay tiền. Do đó, ông N không đồng ý trả nợ theo yêu cầu của bà L. Ông N trình bày thêm là bà L cho rằng vợ chồng ông N vay tiền của bà L là không đúng, vì ông N không có vay tiền của bà L chỉ có bà M vay tiền theo các biên nhận chứ ông N không có vay, nên không gọi là vợ chồng vay được.

Bị đơn Châu Ngọc M: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, cũng không có gửi văn bản ý kiến cho Tòa án.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng bị đơn Châu Ngọc M chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật do bị đơn M không cung cấp văn bản ý kiến và tham gia các phiên họp theo quy định.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ Điều 91, Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Căn cứ Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Châu Ngọc M và ông Huỳnh Văn N có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Kim L số tiền vay 1.400.000.000 đồng và lãi suất chậm trả với mức lãi suất theo quy định pháp luật. Tuy nhiên cần điều chỉnh cấn trừ số tiền vượt quá quy định vào số tiền gốc và điều chỉnh lãi theo quy định pháp luật.

Đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 03, ngày 10-6-2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng (Nay là khu vực 12). Xét thấy cần thiết tiếp tục áp dụng để đảm bảo thi hành án cho bà L.

Không yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn Châu Ngọc M vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị Kim L yêu cầu ông Huỳnh Văn N và bà Châu Ngọc M liên đới trả cho bà L tiền vay gốc tổng cộng 1.400.000.000đồng, tiền lãi tổng cộng 23.240.000 đồng, tổng cộng gốc, lãi là 1.423.240.000 đồng và yêu cầu tính lãi đến khi Tòa án giải quyết xong. Đối với số tiền lãi trước đây đã nhận vượt quá quy định của pháp luật bà L đồng ý khấu trừ vào số tiền gốc với mức lãi suất là 1,67%/tháng, sau khi khấu trừ tiền lãi nhận thừa vào số tiền gốc còn lại gốc bao nhiêu thì bà L cũng thống nhất và yêu cầu tiếp tục tính lãi đến ngày xét xử.

Xét thấy: Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Châu Ngọc M và việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án đảm bảo đúng quy định của pháp luật nhưng bị đơn bà Châu Ngọc M không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim L cũng như không phản đối gì đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim L nên yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim L là có đủ căn cứ để chứng minh theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 91 và khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại khoản 2, khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thực hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó. 4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.

Tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”, nên chấp nhận.

Tuy nhiên, đối với số tiền lãi các bên thỏa thuận lãi suất là 5%/1tháng và bà L thừa nhận đã nhận tiền lãi của bà M số tiền cụ thể sau:

Số tiền vay 500.000.000 đồng, ngày 12-9-2024 bà L thừa nhận đã nhận tiền lãi của bà M 07 tháng (kể từ ngày vay), mỗi tháng 25.000.000 đồng, tổng cộng 175.000.000 đồng.

Số tiền vay 700.000.000 đồng, ngày 22-02-2025 bà L thừa nhận đã nhận tiền lãi của bà M 02 tháng (kể từ ngày vay), mỗi tháng 35.000.000 đồng, tổng cộng 70.000.000 đồng.

Số tiền vay 200.000.000 đồng, ngày 02-3-2025 bà L thừa nhận đã nhận tiền lãi của bà M 01 tháng (kể từ ngày vay), với số tiền là 10.000.000 đồng.

Xét thấy lãi suất do các bên tự thỏa thuận nhưng trái quy định của pháp luật do đó cần thiết điều chỉnh lại lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự với mức lãi suất là 1, 66666/%/tháng nên lấy tròn là 1,67%/tháng và bà L cũng đồng ý điều chỉnh theo lãi suất 1,67%/1tháng các số tiền được tính như sau:

Đối với số tiền vay 500.000.000 đồng, ngày 12-9-2024.

Số tiền vay 500.000.000 đồng tính từ ngày 12-9-2024 đến ngày 12-10-2024 lãi suất tính 1,67% tháng x 500.000.000 đồng x 1 tháng = 8.350.000 đồng. Lãi đã nhận là 25.000.000 đồng – 8.350.000 đồng = 16.650.000 đồng, nên số tiền lãi còn lại sẽ trừ vào số tiền gốc 500.000.000 đồng – 16.650.000 đồng = 483.350.000 đồng.

Số tiền vay 483.350.000 đồng tính từ ngày 13-10-2024 đến ngày 13-11-2024 lãi suất tính 1,67% tháng x 483.350.000 đồng x 1 tháng = 8.071.945 đồng (làm tròn 8.072.000 đồng). Lãi đã nhận là 25.000.000 đồng – 8.072.000 đồng = 16.928.000 đồng, nên số tiền lãi còn lại sẽ trừ vào số tiền gốc 483.350.000 đồng – 16.928.000 đồng = 466.422.000 đồng.

Số tiền vay 466.422.000 đồng tính từ ngày 14-11-2024 đến ngày 14-12-2024 lãi suất tính 1,67% tháng x 466.422.000 đồng x 1 tháng = 7.789.247 đồng (làm tròn 7.789.000 đồng). Lãi đã nhận là 25.000.000 đồng – 7.789.000 đồng = 17.211.000 đồng, nên số tiền lãi còn lại sẽ trừ vào số tiền gốc 466.422.000 đồng – 17.211.000 đồng = 449.211.000 đồng.

Số tiền vay 449.211.000 đồng tính từ ngày 15-12-2024 đến ngày 15-01-2025 lãi suất tính 1,67% tháng x 449.211.000 đồng x 1 tháng = 7.501.823 đồng (làm tròn 7.502.000 đồng). Lãi đã nhận là 25.000.000 đồng – 7.502.000đồng = 17.498.000 đồng, nên số tiền lãi còn lại sẽ trừ vào số tiền gốc 449.211.000 đồng – 17.498.000 đồng = 431.713.000 đồng.

Số tiền vay 431.713.000 đồng tính từ ngày 16-01-2025 đến ngày 16-02-2025 lãi suất tính 1,67% tháng x 431.713.000 đồng x 1 tháng = 7.209.607 đồng (làm tròn 7.210.000 đồng). Lãi đã nhận là 25.000.000 đồng – 7.210.000 đồng = 17.790.000 đồng, nên số tiền lãi còn lại sẽ trừ vào số tiền gốc 431.713.000 đồng – 17.790.000 đồng = 413.923.000 đồng.

Số tiền vay 413.923.000 đồng tính từ ngày 17-02-2025 đến ngày 17-3-2025 lãi suất tính 1,67% tháng x 413.923.000 đồng x 1 tháng = 6.912.514 đồng (làm tròn 6.913.000 đồng). Lãi đã nhận là 25.000.000 đồng – 6.913.000 đồng = 18.087.000 đồng, nên số tiền lãi còn lại sẽ trừ vào số tiền gốc 413.923.000 đồng – 18.087.000 đồng = 395.836.000 đồng.

Số tiền vay 395.836.000 đồng tính từ ngày 18-3-2025 đến ngày 18-4-2025 lãi suất tính 1,67% tháng x 395.836.000 đồng x 1 tháng = 6.610.461 đồng (làm tròn 6.610.000 đồng). Lãi đã nhận là 25.000.000 đồng – 6.610.000 đồng = 18.390.000 đồng, nên số tiền lãi còn lại sẽ trừ vào số tiền gốc 395.836.000 đồng – 18.390.000 đồng = 377.446.000 đồng.

Nên số tiền vay ngày 12-9-2024 sau khi khấu trừ còn thiếu tiền gốc là 377.446.000 đồng.

Đối với số tiền vay 700.000.000 đồng, ngày 22-02-2025.

Số tiền vay 700.000.000 đồng tính từ ngày 22-02-2025 đến ngày 22-3-2025 lãi suất tính 1,67% tháng x 700.000.000 đồng x 1 tháng = 11.690.000 đồng. Lãi đã nhận là 35.000.000 đồng – 11.690.000 đồng = 23.310.000 đồng, nên số tiền lãi còn lại sẽ trừ vào số tiền gốc 700.000.000 đồng – 23.310.000 đồng = 676.690.000 đồng.

Số tiền vay 676.690.000 đồng tính từ ngày 23-3-2025 đến ngày 23-4-2025 lãi suất tính 1,67% tháng x 676.690.000 đồng x 1 tháng = 11.300.723 đồng (làm tròn 11.301.000 đồng). Lãi đã nhận là 35.000.000 đồng – 11.301.000 đồng = 23.699.000 đồng, nên số tiền lãi còn lại sẽ trừ vào số tiền gốc 676.690.000 đồng – 23.699.000 đồng = 652.991.000 đồng.

Nên số tiền vay ngày 22-02-2025 sau khi khấu trừ còn thiếu tiền gốc là 652.991.000 đồng.

Đối với số tiền vay 200.000.000 đồng, ngày 02-3-2025

Số tiền vay 200.000.000 đồng tính từ ngày 02-3-2025 đến ngày 02-4-2025 lãi suất tính 1,67% tháng x 200.000.000 đồng x 1 tháng = 3.340.000 đồng. Lãi đã nhận là 10.000.000 đồng – 3.340.000 đồng = 6.660.000 đồng, nên số tiền lãi còn lại sẽ trừ vào số tiền gốc 200.000.000 đồng – 6.660.000 đồng = 193.400.000 đồng.

Nên số tiền vay ngày 02-3-2025 sau khi khấu trừ còn thiếu tiền gốc là 193.400.000 đồng.

Sau khi khấu trừ lãi đối với số tiền vay ngày 12-9-2024 còn thiếu gốc là 377.446.000 đồng và tiếp tục tính lãi từ ngày 19-4-2025 đến ngày 18-8-2025 (ngày xét xử), là 03 tháng 29 ngày, lãi suất tính 1,67%/tháng. Số tiền 377.446.000 đồng x 1,67%/tháng x 03 tháng 29 ngày = 25.003.280 đồng, lấy tròn 25.003.000 đồng.

Sau khi khấu trừ lãi đối với số tiền vay ngày 22-02-2025 còn thiếu gốc là 652.991.000 đồng và tiếp tục tính lãi từ ngày 24-4-2025 đến ngày 18-8-2025 (ngày xét xử), là 03 tháng 24 ngày, lãi suất tính 1,67%/tháng. Số tiền 652.991.000 đồng x 1,67%/tháng x 03 tháng 24 ngày = 41.438.808 đồng, lấy tròn 41.439.000 đồng.

Sau khi khấu trừ lãi đối với số tiền vay ngày 02-3-2025 còn thiếu gốc là 193.400.000 đồng và tiếp tục tính lãi từ ngày 03-4-2025 đến ngày 18-8-2025 (ngày xét xử), là 04 tháng 15 ngày, lãi suất tính 1,67%/tháng. Số tiền 193.400.000 đồng x 1,67%/tháng x 04 tháng 15 ngày = 14.534.009 đồng, lấy tròn 14.534.000 đồng.

Tổng cộng số tiền gốc là 377.446.000 đồng + 652.991.000 đồng + 193.400.000 đồng = 1.223.837.000 đồng.

Tổng cộng số tiền lãi là 25.003.000 đồng + 41.439.000 đồng + 14.534.000 đồng = 80.976.000 đồng.

Do đó, số tiền vay bà M còn thiếu gốc là 1.223.837.000 đồng, tiền lãi là 80.976.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 1.304.813.000 đồng.

Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim L yêu cầu ông Huỳnh Văn N phải liên đới cùng bà Châu Ngọc M trả số nợ trên. Còn ông Huỳnh Văn N không đồng ý cùng bà M liên đới trả số tiền trên cho bà L, vì ông N không có vay tiền của bà L, cũng không biết bà M vay tiền của bà L và không có sử dụng số tiền của bà M vay của bà L, nếu bà L cho rằng vợ chồng ông N vay tại sao khi cho bà M vay tiền không thông báo cho ông N biết và cũng không cho ông N ký tên vào biên nhận vay tiền. Hội đồng xét xử, xét thấy: Bà M là người trực tiếp vay tiền của bà L và ký biên nhận nợ với bà L, ông N không trực tiếp vay tiền của bà L. Tuy nhiên, việc vay tiền của bà L thì ông N và bà M là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn, đang sống chung với nhau, quan hệ hôn nhân đến nay vẫn chưa chấm dứt. Ông N thừa nhận trong thời gian chung sống, bà M có hoạt động kinh doanh dịch vụ chuyển tiền, đồng thời là người đảm nhận chi tiêu các khoản chi phí sinh hoạt hằng ngày của gia đình, nên có căn cứ xác định việc bà M vay tiền nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà L là có căn cứ chấp nhận buộc ông Huỳnh Văn N có nghĩa vụ liên đới cùng bà Châu Ngọc M trả nợ cho bà Nguyễn Thị Kim L theo quy định tại Điều 103, Điều 288 của Bộ luật dân sự và Điều 27, Điều 30, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình.

Từ những phân tích trên chứng tỏ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim L là có căn cứ nên chấp nhận. Buộc bà Châu Ngọc M và ông Huỳnh Văn N có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Kim L số tiền vay còn thiếu gốc là 1.223.837.000 đồng, tiền lãi là 80.976.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 1.304.813.000 đồng là phù hợp theo quy định tại các điều 103, 288, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự và Điều 27, Điều 30, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình.

Đối với Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 03/2025/QĐ-BPKCTT ngày 10-6-2025, xét thấy cần phải đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn vì yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên tiếp tục duy trì đối với Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 03/2025/QĐ-BPKCTT ngày 10-6-2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp).

Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận”. Trong vụ án này các bị đơn bà Châu Ngọc M và ông Huỳnh Văn N có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Nguyễn Thị Kim L số tiền 1.304.813.000 đồng nên phải có nghĩa vụ chịu 51.144.390 đồng, lấy tròn 51.144.000 đồng án phí; Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được nhận lại 27.348.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số: 0005120 ngày 04-6-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp (cũ).

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 5, 26, 35, 39, 91, 92, 144, 147, 227, 228, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các điều 27, 30, 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào các điều 103, 288, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim L.

Buộc bà Châu Ngọc M và ông Huỳnh Văn N có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Kim L số tiền vay còn thiếu gốc là 1.223.837.000 đồng, lãi là 80.976.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 1.304.813.000 đồng (Một tỷ ba trăm lẻ bốn triệu tám trăm mười ba nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số: 03/2025/QĐ-BPKCTT ngày 10-6-2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp).

3. Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Châu Ngọc M và ông Huỳnh Văn N có nghĩa vụ liên đới chịu 51.144.000 đồng (Năm mươi mốt triệu một trăm bốn mươi bốn nghìn đồng) án phí.

Bà Nguyễn Thị Kim L không phải chịu án phí nên được nhận lại 27.348.000 đồng (Hai mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số: 0005120 ngày 04-6-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp (cũ).

4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18-8-2025). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ